Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận về đăng ký doanh nghiệp 1. Khái niệm đăng ký doanh nghiệp Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Có thể nói, quyền tự do kinh doanh là quyền cơ bản của công dân, theo đó, công dân được phép làm những gì mà pháp luật không cấm.
Bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào khi đủ điều kiện mà pháp luật quy định, nếu có nhu cầu thì đều có thể tiến hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, dù kinh doanh dưới hình thức nào, hoạt động kinh doanh luôn cần đặt trong khuôn khổ pháp luật và dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, cá nhân, tổ chức muốn hoạt động kinh doanh cần phải đăng ký doanh nghiệp để được thừa nhận tư cách pháp lý và nhận được sự bảo hộ về quyền và lợi ích hợp pháp từ phía Nhà nước. Theo định nghĩa tại Từ điển Tiếng Việt: Đăng ký được hiểu là ghi vào sổ của cơ quan quản lý để chính thức được công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ.
Theo đó Đăng ký doanh nghiệp là hoạt động ghi vào sổ của cơ quan quản lý để đơn vị hoạt động kinh doanh, cơ sở sản xuất chính thức được công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ [31]. Phân tích khái niệm trên theo Từ điển Tiếng Việt như trên đã phần nào giúp người đọc hiểu sơ lược về khái niệm đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, cách hiểu đó chỉ là về mặt hình thức câu từ mà chưa chứa đựng những nội dung hàm chứa trong khái niệm này về mặt pháp lý khi sử dụng. Về mặt pháp lý, pháp luật Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào đề cập đến khái niệm “đăng ký”, nhưng khái niệm “doanh nghiệp” đã được quy định cụ thể trong các văn bản luật, ngay từ Luật Công ty năm 1990 như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo đó, bản chất “kinh doanh” của doanh nghiệp đã được thể hiện qua khái niệm trên. Tuy nhiên, quy định về khái niệm doanh nghiệp 6 tại Luật Công ty 1990 chưa cụ thể và đầy đủ, bởi với nội dung như trên, các chủ thể cần tìm hiểu về “đơn vị kinh doanh” và “thành lập” chưa có cái nhìn rõ nhất về doanh nghiệp. Nói cách khác khái niệm “doanh nghiệp” được quy định tại Luật Công ty 1990 đưa người tiếp cận đi từ khái niệm này đến khái niệm khác. Nhằm khắc phục hạn chế trên, khái niệm “doanh nghiệp” đã được quy định theo hưởng đầy đủ về bản chất và cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Và đến Luật Doanh nghiệp 2014 đã rút gọn lại khái niệm Doanh nghiệp nhưng vẫn đầy đủ nội hàm như Luật Doanh nghiệp 2005, cụ thể được quy định tại khoản 7 Điều 4 như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Như vậy, khái niệm “doanh nghiệp” đã được quy định ngay từ các văn bản pháp luật đầu tiên về hoạt động kinh doanh. Đối với khái niệm Đăng ký doanh nghiệp: Trước đây, từ những năm 1990 ở Việt Nam, Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành sử dụng thuật ngữ “đăng ký kinh doanh”. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp được ban hành thì cụm từ “đăng ký kinh doanh” chính thức được thay thế bằng cụm từ “đăng ký doanh nghiệp”.
Tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định như sau: “Đăng ký doanh nghiệp quy định tại Nghị định này bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp”. Theo đó, khái niệm về đăng ký doanh nghiệp rộng hơn khái niệm đăng ký kinh doanh. Đăng ký kinh doanh được xem là hoạt động pháp lý bao gồm hành vi của chủ đầu tư thực hiện hoạt động kinh doanh phải khai báo theo quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể và cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh, đồng thời cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ thể đăng ký.
Đăng ký doanh nghiệp bao gồm hai nội dung là đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp 7 theo Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các tổ chức, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp không cần phải tiến hành làm thủ tục tại hai cơ quan như trước đây mà chỉ cần làm một thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đầu mối là Phòng Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư. Vì thế, Phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các cơ quan thuế bằng biện pháp nghiệp vụ thực hiện qua hệ thống cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trong đó, thống nhất mã số doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế. Có thể thấy, Nghị định 43/2010/NĐ-CP được ban hành đã tạo ra một bước ngoặt tiến bộ trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp, khắc phục các nhược điểm trong quá trình thành lập doanh nghiệp ở thời gian trước đó.
Tuy nhiên, khái niệm trên được quy định dưới hình thức liệt kê các thủ tục pháp lý mà tổ chức, cá nhân cần thực hiện khi đăng ký doanh nghiệp. Người đọc sẽ khó hình dung về những công việc, hoạt động hàm chứa trong nội dung đăng ký doanh nghiệp. Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 14/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp đã có quy định một cách cụ thể hơn về khái niệm đăng ký doanh nghiệp, cụ thể: “Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này” (Khoản 1 Điều 3 Nghị định 78/2015/NĐ-CP).
Mặc dù khái niệm Đăng ký nghiệp theo quy định trên vẫn được đề cập dưới hình thức liệt kê nhưng đã giúp người đọc hình dung cụ thể, chính xác những vấn đề pháp lý được bao hàm trong khái niệm, qua đó xác định được phạm vi và các thủ tục pháp lý cần thực hiện nhằm đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, quy định khái niệm đăng ký doanh nghiệp tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 78/2015/NĐ-CP là phù hợp, đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi, dễ hiểu trong quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn.2 Đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) có các đặc điểm sau: Một là, đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục pháp lý cần thiết để các chủ thể kinh doanh có thể gia nhập thị trường. Để bắt đầu tham gia vào hoạt động kinh doanh, công việc đầu tiên của chủ thể kinh doanh phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đảm bảo để hoạt động kinh doanh. Điều kiện đầu tiên phải kể đến là thủ tục gia nhập thị trường hay còn gọi là thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
Đăng ký doanh nghiệp là hoạt động mà ở đó chủ thể kinh doanh phải thực hiện những thủ tục cần thiết để khai báo với cơ quan quản lý nhà nước về nhu cầu khởi sự kinh doanh. Như vậy, thông qua quy trình đăng ký doanh nghiệp để nhà nước thừa nhận sự tồn tại của một loại hình kinh doanh trên thương trường, đồng thời khẳng định tư cách pháp lý cho loại hình kinh doanh đó. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, khi có sự thay đổi cũng cần đăng ký, thông báo. Thông qua hoạt động đăng ký doanh nghiệp, Nhà nước hướng cho chủ thể kinh doanh kinh doanh đúng pháp luật, phát huy khả năng sáng tạo về ý tưởng kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, luôn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh việc quy định chủ thể kinh doanh phải tiến hành đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục gia nhập thị trường không những đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh mà còn đáp ứng nhu cầu quản lý của nhà nước đối với những tổ chức kinh tế này. Vì vậy, việc thành lập một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận phải luôn đảm bảo theo quy định của pháp luật. Hai là, thông qua việc đăng ký doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà Cơ quan đăng ký doanh nghiệp cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký doanh nghiệp.
Giấy chứng nhận ĐKDN thực chất là một loại văn bản mang tính chất pháp lý do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép hoặc đồng ý để một chủ thể kinh doanh (cá nhân hoặc tổ chức) tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh nhất định hoặc chấp nhận sự sửa đổi bổ sung trong quá trình kinh doanh.