Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đăng ký DN và pháp luật về đăng ký DN. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký DN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về đăng ký DN thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1.
Những vấn đề lý luận cơ bản về đăng ký doanh nghiệp 1. Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2000 “Đăng ký là một động từ có nghĩa là ghi vào sổ của cơ quan quản lý để chính thức được công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ” [30]. Có thể hiểu đăng ký là hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân nào đó được uỷ quyền nhằm thực hiện việc ghi nhận, xác nhận về một sự việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của chủ thể đứng ra thực hiện việc đăng ký. Doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp và nó rất phổ biến.
Trên thế giới, so với các loại hình doanh nghiệp khác, thì công ty xuất hiện muộn hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19. Trước đó, các hoạt động kinh doanh thực hiện dưới hình thức hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân. Cũng kể từ thế kỷ 19 và đặc biệt trong nửa đầu thế kỷ 20, công ty là loại hình kinh doanh phát triển mạnh mẽ nhất. Nhiều nước trên thế giới hiện nay, thay vì thiết lập luật doanh nghiệp, đã thiên về quy định tổ chức và hoạt động của các loại hình công ty.
Ở góc độ mở rộng là doanh nghiệp hoặc xem xét ở góc độ hẹp là công ty, thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh. Luật Doanh nghiệp 2020 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [16, Khoản 10 Điều 4]. Từ những nghiên cứu trên, có thể hiểu doanh nghiệp là thuật ngữ được dử dụng với nhiều nghĩa khác nhau, trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ doanh nghiệp dùng để chỉ một loại hành vi thương mại, hoặc các thực thể kinh doanh nói chung, tập hợp tài sản của một chủ thể thương nhân nào đó được khai thác nhằm mục đích thương mại. Thuật ngữ “ đăng ký doanh nghiệp” được ghép từ hai từ: “ đăng ký” ; “ doanh nghiệp” có thể được nhìn nhận dưới các góc độ như sau: Theo phương diện kinh tế: ĐKDN là hoạt dộng của doanh nghiệp tuy không trực tiếp tạo ra của cải vật chất hay những dịch vụ nhằm thu lợi nhuận về cho các 6 doanh nghiệp có thể tiến hành được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Vì vật, tuy trong giai đoạn tiến hành các thủ tục đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp chưa thực sự có, song chi phí trong quá trình đang ký kinh doanh thành lập doanh ngiệp vẫn được tính vào chi phí hợp lý của doanh ngiệp và được khấu trừ trong khi tính thuế. Theo phương diện quản lý nhà nước: đăng ký doanh nghiệp là hoạt động quản lý đầu tiên của Nhà nước đối với Doanh nghiệp, tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện các hoạt động quản lý tiếp theo của mình khi doanh nghiệp đi vào sản xuất như định huớng của nhà nước đến hệ thống các doanh nghiệp, làm cho hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của Nhà nước, tạo ra sự phát triển đồng đều và cân bằng về mặt kinh tế và xã hội. Đồng thời đặt cơ sở ban đầu cho công tác quản lý trong khâu hậu kiểm, thực hiện việc điều tiết kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp ngay từ khâu gia nhập thị trường. Đăng ký doanh nghiệp được coi là biện pháp quản lý nhà nước về kinh tế.
Theo phương diện chính trị: đăng ký doanh nghiệp được hiều là quyền tự do của công dân. Tuy nhiên, quyền này phải được hiểu là quyền tự do trong khuôn khổ, dân chủ tập trung và bình đẳng trước pháp luật. Quyền đăng ký doanh nghiệp cũng đồng thời là nghĩa vụ phải thực hiện. Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp có nội hàm bao gồm cả quyền tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức kinh doanh và dự do đăng ký doanh nghiệp.
Bất cứ một tổ chức nào có đủ điều kiện vể kinh doanh đều có thể đăng ký với nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà không ai có quyền ngăn cản trái phép. Theo phương diện pháp lý: Đối với khái niệm về đăng ký doanh nghiệp, trước đây thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” được áp dụng theo Luật công ty 1990 đến Luật doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp do Chính phủ ban hành ngày 15/4/2010 và có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/06/2010. Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đã tạo ra bước ngoặt mới trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính chính thức thống nhất quy trình đăng ký kinh doanh với đăng ký thuế, áp dụng một mã số duy nhất để định danh cho doanh nghiệp, khái niệm “đăng ký kinh doanh” được thay thế bằng khái niệm “đăng ký doanh nghiệp” chính thức từ Nghị định này.
7 Theo Nghị định 78/2015/NĐ-CP 14/9/2015 và Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 quy định: “Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với Cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này”. Theo đó, khái niệm về đăng ký doanh nghiệp rộng hơn khái niệm về đăng ký kinh doanh. Đăng ký kinh doanh là một thủ tục pháp lý áp dụng cho các chủ thể kinh doanh khi gia nhập thị trường mà theo đó nhà đầu tư phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến hoạt động của mình theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, được Nhà nước thừa nhận ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh đồng thời cấp cho chủ thể đăng ký kinh doanh giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Đăng ký doanh nghiệp bao gồm hai nội dung là đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020. Như vậy để thành lập doanh nghiệp thì tổ chức, cá nhân không phải tiền hành làm hai thủ tục tại hai cơ quan như trước kia mà chỉ cần làm một thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đầu mối là Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và Đầu tư để cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm về đăng ký doanh nghiệp tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP chỉ mang tính liệt kê các thủ tục pháp lý mà tổ chức, cá nhân cần thực hiện khi đăng ký doanh nghiệp. Để khắc phục hạn chế trên, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015, Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định một cách cụ thể hơn về về khái niệm Đăng ký doanh nghiệp tại khoản 1 Điều 3, cụ thể là:“Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về Đăng ký doanh nghiệp với cơ quan Đăng ký doanh nghiệp và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp.
Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung Đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này.” 8 Như vậy, dưới góc độ pháp lý, có thể hiểu đăng ký doanh nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan Đăng ký kinh doanh với cá nhân, tổ chức đăng ký thành lập mới doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung của doanh nghiệp. Theo định nghĩa này, Đăng ký doanh nghiệp bao gồm cả việc đăng ký thành lập doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung Đăng ký doanh nghiệp. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Bởi vì sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, được cấp mã số doanh nghiệp thì trong quá trình hoạt động có thể phát sinh những thay đổi liên quan đến hồ sơ Đăng ký doanh nghiệp đã đăng ký.
Việc thay đổi này cũng cần phải đăng ký thay đổi hoặc thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh. Đặc điểm đăng ký doanh nghiệp Một là, đăng ký doanh nghiệp là một quá trình đánh dấu sự ra đời của một doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận như là một thực thể tham gia vào nền kinh tế với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bắt đầu tham gia vào hoạt động kinh doanh, công việc đầu tiên của chủ thể kinh doanh phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đảm bảo để hoạt động kinh doanh. Điều kiện đầu tiên phải kể đến là thủ tục gia nhập thị trường hay còn gọi là thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
Đăng ký kinh doanh là hoạt động mà ở đó chủ thể kinh doanh phải thực hiện những thủ tục cần thiết để khai báo với cơ quan quản lý nhà nước về nhu cầu khởi sự kinh doanh. Có thể thấy, thông qua quy trình đăng ký kinh doanh để nhà nước thừa nhận sự tồn tại của một loại hình kinh doanh trên thương trường, đồng thời khẳng định tư cách pháp lý cho loại hình kinh doanh đó. Ngoài ra, nhà nước còn hướng cho chủ thể kinh doanh kinh doanh đúng pháp luật, phát huy khả năng sáng tạo về ý tưởng kinh doanh, ý chí làm giàu theo đúng quy định của pháp luật, chính sách của nhà nước.