Chương 1: DÂN CHỦ LÀNG XÃ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Khái niệm và đặc điểm của dân chủ làng xã ở nước ta hiện nay 1.1 Quan niệm chung về dân chủ * Khái niệm dân chủ: Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Ở đây, “Dân chủ” là một từ ghép bao gồm hai chữ: Demos (có nghĩa là người bình dân, dân chúng) và Kratia (chữ gốc là Kratos - có nghĩa là quyền cai trị, là sức mạnh). Do vậy, từ Demos Kratia có nghĩa là dân chủ, quyền lực, là sự cai trị của người bình dân.
Theo đó, dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân; dân chủ là sự cai trị của nhân dân - nó được biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự nghiệp giải phóng con người và giải phóng nhân loại cần lao khỏi áp bức, xiềng xích, bất công. Lênin viết: “Chế độ dân chủ, đó là một Nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức đảm bảo cho một giai cấp thi hành bạo lực một cách có hệ thống chống lại giai cấp khác” [33,tr. Vì vậy, dân chủ luôn mang tính giai cấp, nó tồn tại và biến đổi cùng với sự biến đổi của cuộc đấu tranh giai cấp và sự thay đổi của phương thức sản xuất chủ yếu của xã hội.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hiện tượng hợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác và bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người, để con người có thể thực hiện được những quyền tự nhiên của mình, tự làm chủ vận mệnh và quyết định những vấn đề xã hội.Mác, dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất là chế độ “do nhân dân tự quy định Nhà nước”, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước. Nhân dân tự tổ chức quyền 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lực nhà nước qua bầu cử, tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị của nhân dân thành ba nội dung lớn: quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý các công việc của Nhà nước và quyền bãi miễn. Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về “dân chủ” của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh lý giải khái niệm “dân chủ” một cách đơn giản, hết sức cô đọng và dễ hiểu, dễ thực hiện và dễ kiểm soát.
Người nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân làm chủ”, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [28,tr. Người viết: “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [28,tr.698]` Như vậy, “dân là chủ” và “dân làm chủ” là cốt lõi trong khái niệm “dân chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản mà nhân loại thừa nhận: dân chủ nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Song nghiên cứu về dân chủ, chúng ta phải đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi dùng khái niệm “nhân dân” không bao giờ được đánh đồng các giai cấp, tầng lớp.Vì dân chủ gắn liền với xã hội có giai cấp, khái niệm dân có thể thay đổi về số lượng, chất lượng và đối tượng tùy theo tính chất của một xã hội trong từng thế kỷ, từng nấc thang phát triển nhất định.
Có thể nói, khái niệm “dân” đồng nhất với khái niệm nhân dân, dân chúng, quần chúng nhân dân. Và việc thực hiện cho được “dân là chủ, dân làm chủ” đấy chính là thực hiện sứ mệnh lịch sử, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, bởi vì quần chúng nhân dân là lực lượng cơ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản của mọi cuộc cách mạng, là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và sáng tạo ra những giá trị tinh thần, nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Dân chủ là khát vọng được làm chủ, là quyền tự nhiên của con người trong đó có quyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò của người chủ và quyền làm chủ đó có lúc, có nơi đã được những người cầm quyền trong lịch sử nhận thức và thể chế thành pháp luật thực định cùng các thiết chế chính trị - xã hội khác. Song, chỉ đến khi nền dân chủ vô sản – dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời, thì đó mới là chế độ dân chủ thực sự, dân chủ của đa số nhân dân với sự đảm bảo thực hiện của pháp luật, của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Dân chủ làng xã ở nước và đặc điểm của nó - Khái niệm làng xã Khái niệm “Làng” là danh từ (theo tiếng Nôm), dùng để chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng chặt chẽ và hoàn thiện nhất của người Việt. Trong buổi đầu được gọi là các Kẻ, Chạ, Chiềng của người Việt cổ, về sau được gọi là Làng, còn ở khu vực miền núi được gọi là Bản, Mường, Buôn, Plei, Plum, Đê,… Khái niệm “Xã” là danh từ (theo tiếng Hán) có nơi gọi là Thôn, dùng để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất của nhà nước Phong kiến ở các vùng nông thôn Việt Nam xưa. Ngày nay tên gọi xã vẫn dùng để chỉ đơn vị hành chính địa phương cở sở ở nông thôn[20,tr.1] Mối quan hệ giữa Làng và Xã có một vị trí quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng. Thông thường một “xã” bao gồm một hoặc nhiều “làng”, làng là đơn vị cấu thành của xã, đôi lúc mỗi xã chỉ có một làng (xã ngang bằng với làng).
Khác với làng, “làng xã” là thuật ngữ xuất hiện muộn hơn. Và theo GS. Nguyễn Quang Ngọc: “Làng xã là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng, đơn vị hành chính cấp cơ sở (ở đây 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúng tôi muốn nói về trường hợp thời kỳ đầu một xã chỉ có một làng). Cụm từ “làng xã” hết sức thông dụng, thậm chí nhiều người tưởng rằng làng với xã chỉ là một và có cùng nguồn gốc rất lâu đời.
Thật ra khái niệm “làng xã” chỉ xuất hiện sớm nhất là từ thế kỷ VII, nhưng chắc chắn phải đến thế kỷ X, sau khi cấp xã chính thức xuất hiện mới có điều kiện trở thành phổ biến trong xã hội”.10] Dù còn có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ này, nhưng tác giả đồng tình với quan niệm trên và cũng cho rằng, thuật ngữ “làng xã” có nhiều điểm tương đồng với thuật ngữ “làng” nhưng xuất hiện muộn hơn. Ngoài ra, thuật ngữ “làng xã” cũng được sử dụng khá phổ biến để chỉ cấp quản lý thấp nhất khi nói một cách chung chung. Ở đây, cũng có sự khác biệt khi làng xã đôi khi cũng được coi là cấp chính quyền cơ sở trong hệ thống bộ máy quản lý của chính quyền đô hộ cũng như chính quyền phong kiến Việt Nam. Trường hợp một xã gồm nhiều thôn, thì thôn là phân thể hành chính của xã nhưng không có tư cách pháp nhân.
Trường hợp xã tương đương với thôn thì thôn mang tính chất độc lập và nó cũng có tư cách pháp nhân là đơn vị hành chính địa phương, cơ sở của nhà nước trung ương. Tuy có trường hợp xã tương đương với làng, nhưng xét về sắc thái, ý nghĩa thì giữa chúng vẫn có sự khác biệt: làng mang tính chất truyền thống, được sử dụng để biểu thị tình cảm, còn xã mang ý nghĩa về mặt hành chính, thường được sử dụng trên giấy tờ. Trong trường hợp thôn có tư cách pháp nhân giống như xã thì người ta gọi ghép là xã thôn. Do có nhiều xã chỉ gồm có một làng duy nhất nên người ta gọi chung là làng xã.
Do làng là một tập hợp bao gồm nhiều xóm nên người ta gọi là làng xóm. Như vậy, làng không phải bao giờ cũng trùng với xã. Xã là biểu hiện xác định của một tồn tại ở khía cạnh thực thể đơn vị hành chính (địa giới, cấu trúc thực thể với mối quan hệ nội tại và mối quan hệ với chính quyền 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp trên, với xã hội bên ngoài); làng với đời sống văn hóa truyền thống, là nền tảng tinh thần “hồn”, “cốt” của làng xã, đời sống tinh thần, khía cạnh tình cảm của dân quê gắn chặt với làng. Khái niệm làng xã như một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng văn hóa, đơn vị hành chính cấp cơ sở.
Với những truyền thống văn hóa đặc trưng của làng xã cổ truyền cùng với tiến trình phát triển lâu dài trong lịch sử, làng xã, văn hóa truyền thống làng xã ở nông thôn Việt Nam đang ảnh hưởng đến quá trình xây dựng, thực hiện dân chủ và đời sống dân chủ ở phạm vi cơ sở của nước ta hiện nay. - Khái niệm dân chủ làng xã: + Những quan niệm khác nhau về dân chủ làng xã: Nhận thức về dân chủ làng xã có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, trong đó có một số quan điểm cụ thể sau: * Quan điểm cho rằng: dân chủ làng xã là dân chủ truyền thống ở Việt Nam, gắn với chế độ phong kiến, các mối quan hệ dân chủ này có thể diễn ra cả các khu đô thị Việt Nam xưa như Hà Nội, phố Hiến, Hội An… đều có những mối quan hệ dân chủ mang tính chất làng xã. Với quan điểm này thì dân chủ làng xã là một xã hội thu nhỏ trong các khu đô thị (đó là đặc trưng riêng có), gắn với tư tưởng “quân vương – thần dân” dựa trên tư tưởng Nho giáo theo “tam cương, ngũ thường”, chia giai cấp. Vì vậy, cụm từ “dân chủ” ở đây không thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó.