Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƢỜI 1. MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁ NHÂN, XÃ HỘI, NHÀ NƢỚC VÀ QUYỀN CON NGƢỜI 1. Khái niệm quyền con ngƣời Ngày nay, quyền con người được thừa nhận là một khái niệm toàn cầu như được ghi nhận trong tuyên bố của Hội nghị thế giới Vienna về quyền con người năm 1993 và các nghị quyết của Liên hợp quốc đã được thông qua nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1998. Kể từ đó, ngày càng có nhiều quốc gia bày tỏ sự ủng hộ của mình đối với Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người và đã phê chuẩn Công ước quốc tế (CƯQT) về các quyền dân sự và chính trị cũng như CƯQT về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội được dựa trên nền tảng của Tuyên ngôn.
Điểm bắt đầu của khái niệm về quyền con người là khái niệm về phẩm giá vốn có của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại như được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới và các công ước năm 1966. Các công ước này cũng ghi nhận ý tưởng về con người tự do khỏi sự sợ hãi, tự do làm điều mong muốn và được hưởng các quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng. Theo đó, quyền con người mang tính phổ quát và không thể chuyển nhượng, có nghĩa là chúng được áp dụng khắp nơi mà không thể lấy đi. Như Tổng thư ký Liên hợp quốc Boutros-Ghali đã nói trong Hội nghị Thế giới Vienna về quyền con người vào năm 1993: "quyền con người là các quyền bẩm sinh".
Các quyền con người là không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau. Các chiều hướng hay phạm trù nhân quyền khác nhau có thể được phân biệt theo các quyền dân sự và chính trị như là quyền tự do bày tỏ và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Trước đây, một số quốc gia hay nhóm các quốc gia cụ thể như là các quốc gia XHCN đã ưu tiên các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hơn là các quyền dân sự và chính trị, trong khi Hoa Kỳ và các quốc gia thành viên của Hội đồng châu Âu lại thể hiện sự ưu tiên các quyền công dân và chính trị hơn. Tuy nhiên, tại Hội nghị quốc tế về quyền con người ở Vienna vào năm 1993, cuộc tranh luận không có ý nghĩa này đã được giải quyết bởi việc công nhận cả hai phạm trù hay xu hướng về quyền con người này là quan trọng như nhau.
Tại Hội nghị Teheran năm 1968, hai nhóm quyền này được ghi nhận là không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau vì sự hưởng thụ đầy đủ các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa dường như là không thể nếu như không có các quyền dân sự, chính trị và ngược lại. Vào những năm 1980, một nhóm các quyền con người nữa được ghi nhận là quyền được hưởng hòa bình, quyền phát triển và quyền được sống trong một môi trường khỏe mạnh. Những quyền này tạo ra một khuôn khổ cần thiết kể cả khi có sự đồng ý của cá nhân đó cho cho việc hưởng thụ đầy đủ các quyền khác. Nhóm quyền thứ ba là sự thể hiện tốt nhất tính thống nhất của các quyền, vì chúng đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế và hướng tới việc xây dựng cộng đồng.
Trong khi quyền con người là quyền của tất cả cá nhân, cho dù họ có quyền công dân của một nước cụ thể nào hay không, quyền công dân là các quyền cơ bản được đặc biệt bảo đảm cho các công dân của một quốc gia cụ thể, ví dụ như quyền bầu cử hay quyền được tiếp cận với các dịch vụ công cộng tại một quốc gia nào đó. Cần phân biệt quyền con người các quyền thiểu số, tức là quyền của các thành viên trong một nhóm với các đặc điểm khác biệt về dân tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ. Tự bản thân họ hay trong cộng đồng với các thành viên của nhóm, họ có quyền con người về hưởng nền văn hóa riêng của mình, được bày tỏ hay thực hiện tôn giáo của riêng mình, được bày tỏ hay thực hiện tôn giáo của riêng mình hay để sử dụng ngôn ngữ của riêng mình. Ngày nay, khái niệm quyền con người được chia sẻ ở cấp độ toàn cầu và nhờ đó được coi như một nền tảng cho các quốc gia của cộng đồng quốc tế, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các tổ chức quốc tế và các phong trào xã hội, tất cả đều với tư cách là thành viên của xã hội quốc tế.
Quyền con người cũng có thể là một phương tiện mà mọi người có thể sử dụng như một công cụ biến đổi xã hội. Do đó, khái niệm quyền con người gắn bó chặt chẽ với khái niệm về dân chủ. Địa vị pháp lý của cá nhân trong xã hội Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân sống trên lãnh thổ là mối quan hệ nền tảng trong mỗi quốc gia. Quan hệ đó thể hiện trong các quyền và nghĩa vụ được quy định tạo thành địa vị pháp lý của cá nhân.
Địa vị pháp lý này nhiều, ít tùy thuộc vào tính chất của Nhà nước (quân chủ chuyên chế, dân chủ tư sản hay dân chủ XHCN) và vào tính công dân của người đó (là công dân, người không quốc tịch hay người nước ngoài). Do đó việc xác định tính công dân (quốc tịch) của một cá nhân là một yếu tố trong việc quy định địa vị pháp lý của cá nhân. Công dân là bộ phận dân cư của một Nhà nước bao gồm những người được xác định lệ thuộc pháp lý đối với Nhà nước đó. Người là công dân của Nhà nước sở tại thì được hưởng đầy đủ những quyền và lợi ích tương xứng, đồng thời phải gánh vác những nghĩa vụ do Nhà nước quy định.
Những cá nhân không phải là công dân thì chỉ được hưởng một số quyền lợi và gánh vác những nghĩa vụ không đầy đủ so với những người là công dân theo pháp luật nước sở tại và các hiệp ước được ký kết hoặc phê chuẩn. Khái niệm công dân được gắn liền với khái niệm quốc tịch. Người là công dân của nước nào thì mang quốc tịch nước đó. Điều 49 Hiến pháp nước ta quy định "công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam" [33].
Khái niệm quốc tịch được dùng để phân biệt công dân của một nước với công dân của nước khác và với người không phải là công dân của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Khái niệm quốc tịch được quy định thông dụng trên thế giới. Theo từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quốc tịch là sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và cá nhân. Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân là công dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài.
Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước và hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước [53, tr. Luật Quốc tịch Việt Nam định nghĩa: Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân đối với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam [40]. Như vậy, quốc tịch là trạng thái pháp lý xác định mối quan hệ lệ thuộc giữa một cá nhân với một Nhà nước nhất định. Người có quốc tịch sẽ chịu sự tài phán tuyệt đối của Nhà nước, đồng thời được hưởng đầy đủ mọi năng lực pháp lý với sự bảo hộ của Nhà nước cả trong nước cũng như ở nước ngoài.
Trong trạng thái pháp lý trên, mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân có quốc tịch được thể hiện như sau: Thứ nhất, Nhà nước bằng pháp luật, quy định quyền và nghĩa vụ của công dân, trong số các quyền đó, công dân có quyền tham gia quyết định các công việc Nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua những người đại diện do Nhân dân bầu ra; thứ hai, công dân phải có nghĩa vụ tuân theo pháp luật mà Nhà nước của mình đặt ra dù họ ở trong hoặc ngoài nước; thứ ba, Nhà nước có quyền phán xét, xử lý tuyệt đối các hành vi của công dân nước mình đồng thời phải có trách nhiệm bảo hộ quyền và lợi ích của công dân cả ở trong và ngoài nước. Khi nói quốc tịch hay công dân là nói tới sự lệ thuộc của một cá nhân vào một Nhà nước nhất định chứ không phải đối với một đất nước. Trên một đất nước, qua các giai đoạn lịch sử có thể có những chế độ Nhà nước khác nhau tồn tại. Quan hệ Nhà nước công dân bao giờ cũng là quan hệ giữa công 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân với một Nhà nước cụ thể.
Hiện nay ở nước ta, đó là mối quan hệ giữa công dân Việt Nam đối với Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Công dân Việt Nam của các chế độ trước được hưởng quyền và sự bảo hộ kế thừa của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay. Sự tồn tại của Nhà nước luôn luôn gắn liền với một quốc tịch thống nhất. Trong từng trường hợp Nhà nước được tổ chức dưới hình thức liên bang thì quốc tịch của các lãnh thổ hợp thành đồng thời là quốc tịch của Nhà nước liên bang.
Để xác định công dân của mình, Nhà nước ban hành luật quốc tịch. Đó là một chế định điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập tính lệ thuộc giữa một bên là các cá nhân sống trên lãnh thổ và bên kia là Nhà nước. Luật về quốc tịch là tổng thể các quy phạm quy định về sự có, mất, thay đổi quốc tịch, quốc tịch của người chưa thành niên, thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề quốc tịch. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn luôn gắn liền với vấn đề quốc tịch là nội dung biểu hiện của vấn đề quốc tịch.
Có quốc tịch thì mới có quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; không có điều ngược lại. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là hạt nhân cơ bản của công dân của quy chế công dân.