Chương 1: Cơ sở Lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và về đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Chương 2: Thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo và thực trạng những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm, Phương hướng, và nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO VÀ VỀ NHỮNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO 1.
Khái niệm về quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo Để làm rõ khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm về tín ngưỡng, khái niệm về tôn giáo và một số khái niệm có liên quan với hai khái niệm này và sự tương đồng và khác biệt giữa khái niệm về tín ngưỡng, khái niệm về tôn giáo. Khái niệm về tín ngưỡng: Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau khi định nghĩa về khái niệm tín ngưỡng dựa trên những góc độ, cách thức tiếp cận khác nhau, nhưng theo Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo thì khái niệm tín ngưỡng được hiểu: Là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắ n liề n với phong tu ̣c , tâ ̣p quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thầ n cho cá nhân và cô ̣ng đồ ng [6, tr 7 ]. Một số khái niệm liên quan đến khái niệm tín ngưỡng Hiện nay, có nhiều góc độ tiếp cận các khái niệm liên quan đến tín ngưỡng nhưng trong phạm vi luận văn này tác giả tiếp cận, phân tích kiến giải các vấn đề liên quan đến khái niệm đến tín ngưỡng theo cách hiểu và tiếp cận của Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, cụ thể là: Hoạt động tín ngưỡng: là hoạt động thờ cúng tổ tiên , các biểu tượng linh thiêng ; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước , với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội [6, tr 7 ]. Lễ hô ̣i tin ́ ngưỡng:là hoạt động tín ngưỡng tập thể được tổ chức theo lễ nghi truyền thống nhằ m đáp ứng nhu cầ u tinh thần của cộng đồng[6, tr 7 ].
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cơ sở tín ngưỡng: là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cô ̣ng đồ ng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác [6, tr 7 ]. - Khái niệm tôn giáo: Cũng giống như khái niệm tín ngưỡng, có nhiều góc độ, cách thức khác nhau khi tiếp cận nghiên cứu về vấn đề tôn giáo, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin thì: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội, đồng thời cũng là một thực thể xã hội được hình thành và phát triển ở những giai đoạn lịch sử nhất định. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo nhưng cơ bản tiến tới một quan niệm phổ quát nhất về tôn giáo đó là: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thể hiện trong những quan niệm của con người (hay nhóm người) dưới dạng niềm tin vào một sức mạnh siêu nhiên tự nhiên hay là những nhân vật được thần thánh hóa, thể hiện bằng những nghi thức, sinh hoạt nhất định, giống nhau của từng thành viên trong nhóm đó; Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Như vậy, tôn giáo vừa là hình thái ý thức xã hội, phản ánh sự tồn tại xã hội “một cách hư ảo” vào đầu óc con người thì nó còn tồn tại với tư cách là một thực thể xã hội biểu hiện ra bên ngoài là hệ thống tổ chức, cơ sở thờ tự.Vì vậy, để nhận thức tôn giáo đúng với những hoạt động, những sức mạnh của niềm tin tôn giáo chúng ta phải nhìn sâu vào các yếu tố cấu thành của nó như: thể chế bên trong các tôn giáo cụ thể. Trên cơ sở quan điểm lập trường của chủ nghĩa Mác - Lên Nin Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã định nghĩa về tôn giáo “là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [ 6, tr7 ].
Cũng như khái niệm liên quan đến tôn giáo trong phạm vi luận văn này tác giả tiếp cận, phân tích kiến giải các vấn đề liên quan đến tôn giáo theo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách hiểu và tiếp cận của Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, cụ thể là: Tín đồ: là người tin , theo mô ̣t tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận [ 6, tr7 ]. Nhà tu hành: là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo [ 6, tr7 ]. Chức sắc: là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức [ 6, tr7 ]. Chức việc: là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuô ̣c , tổ chức đươ ̣c cấ p chứng nhận đăng ký hoa ̣t đô ̣ng tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức [6, tr7 ].
Sinh hoạt tôn giáo: là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo (Khoản 10, Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo). Hoạt động tôn giáo: là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo [6, tr7 ]. Tổ chức tôn giáo: là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định đươ ̣c Nhà nước công nhâ ̣n nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo [ 6, tr7 ]. Tổ chức tôn giáo trực thuộc : là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo , đươ ̣c thành lập theo hiế n chương, điề u lệ, quy định của tổ chức tôn giáo [6, tr7 ].
Cơ sở tôn giáo: gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo [ 6, tr 8 ]. Điạ điể m hơ ̣p pháp là đất, nhà ở, công trình mà tổ chức hoặc cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật[6, tr 8 ]. Người đại diện là người thay mặt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, sinh hoa ̣t tôn giáo tập trung , hoạt động tôn giáo của nhóm người hoặc tổ chức mà mình đại diện [6, tr 8 ]. Sự tương đồng và khác biệt giữa tôn giáo với, tín ngưỡng.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điểm chung giữa tín ngưỡng và tôn giáo về bản chất đều là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên”, hay gọi là "cái thiêng", cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể cảm nhận, quan sát được. Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người, ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người, là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh cũng như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm của con người. Niềm tin này thể hiện ra các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể khác nhau, chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa Trời của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần của tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Thành Hoàng, Đạo Mẫu,. Các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc,.
thì cũng đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người. Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như: Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển,. được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học viện. có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như: nhà thờ, chùa, thánh đường,.
nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người. Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian, trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ. Tóm lại, tín ngưỡng và tôn giáo có mối quan hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên chúng cũng có những điểm khác nhau bởi tín ngưỡng là khái niệm thuần tuý thuộc lĩnh vực ý thức, tình cảm, còn tôn giáo là khái niệm rộng hơn, bao gồm cả hoạt động và tổ chức.
Tôn giáo bao gồm các yếu tố: giáo lý, giáo 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật, giáo lễ và giáo hội. Về bản chất là khác biệt, tuy nhiên hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng. Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới.
Như vậy, theo quan niệm trong các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành tại Việt Nam thì hai khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng dùng để chỉ hai cấp độ khác nhau của tôn giáo, theo đó khái niệm tôn giáo được sử dụng để chỉ những loại hình tín ngưỡng có mức độ phát triển cao hơn; có bộ máy, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn.