Đài Truyền Hình Việt Nam và Vai Trò Định Hướng Kiến Thức Cho Giới Trẻ Hiện Nay

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích vai trò của Đài Truyền hình Việt Nam trong việc định hướng phát triển kiến thức cho giới trẻ hiện nay.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

155
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TRUYỀN HÌNH VÀ NHU CẦU THÔNG TIN CỦA XÃ HỘI

1.1. SỨC MẠNH CỦA THÔNG TIN TRUYỀN HÌNH

1.2. TRUYỀN HÌNH VỚI VIỆC ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN CỦA XÃ HỘI

1.3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIÁO DỤC CHO CÔNG CHÚNG XEM TRUYỀN HÌNH - TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN

1.3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIÁO DỤC TRÊN TRUYỀN HÌNH

1.3.2. TÍNH TẤT YẾU TRONG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIÁO DỤC TRÊN TRUYỀN HÌNH

1.4. CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN

1.4.1. THANH THIẾU NIÊN - NHÓM CÔNG CHÚNG LỚN CỦA TRUYỀN HÌNH

1.4.1.1. THANH THIẾU NIÊN - HỌ LÀ AI?
1.4.1.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA THANH THIẾU NIÊN HIỆN NAY
1.4.1.3. THANH THIẾU NIÊN VÀ TRUYỀN HÌNH

1.4.2. TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN

1.4.2.1. CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN
1.4.2.2. KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN

1.4.3. XÃ HỘI HOÁ TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN

1.5. TIỂU KẾT

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VỀ VIỆC ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIÁO DỤC, ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN CHO GIỚI TRẺ CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

2.1. MỘT SỐ KÊNH TRUYỀN HÌNH VÀ NHỮNG THÔNG TIN TRUYỀN TẢI

2.2. THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU XEM TRUYỀN HÌNH CHO GIỚI TRẺ TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

2.3. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU XEM TRUYỀN HÌNH CỦA GIỚI TRẺ TRÊN SÓNG ĐÀI THVN

2.4. KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN

2.4.1. TÍNH TẤT YẾU PHẢI RA ĐỜI KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN

2.4.1.1. TỪ NHU CẦU CỦA CÔNG CHÚNG TRẺ
2.4.1.2. TỪ ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
2.4.1.3. TỪ NHU CẦU CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

2.4.2. KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN VÀ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG

2.4.2.1. VTV6 - KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THANH THIẾU NIÊN
2.4.2.2. TÍNH ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIÁO DỤC TRÊN VTV6
2.4.2.3. CÔNG CHÚNG TRẺ VỚI VTV6

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ XUNG QUANH VIỆC NÂNG CAO TÍNH ĐỊNH HƯỚNG, GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO GIỚI TRẺ

3.1. GIẢI PHÁP CHO NỘI DUNG

3.2. GIẢI PHÁP VỀ HÌNH THỨC TÁC PHẨM

3.3. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đài Truyền Hình Việt Nam và vai trò của nó

Đài Truyền Hình Việt Nam (THVN) đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin và giải trí cho công chúng. Với sự phát triển không ngừng, THVN đã tạo ra nhiều chương trình phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khán giả, đặc biệt là giới trẻ. Sự phát triển này không chỉ dừng lại ở số lượng mà còn ở chất lượng nội dung, nhằm phục vụ tốt nhất cho công chúng.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Đài Truyền Hình Việt Nam

Đài Truyền Hình Việt Nam được thành lập từ năm 1970, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ phát sóng truyền hình đen trắng đến truyền hình màu và hiện nay là truyền hình số. Sự chuyển mình này đã giúp THVN tiếp cận gần hơn với khán giả trẻ.

1.2. Vai trò của Đài Truyền Hình trong giáo dục giới trẻ

Đài Truyền Hình không chỉ là nơi cung cấp thông tin mà còn là công cụ giáo dục hiệu quả cho giới trẻ. Các chương trình giáo dục, giải trí và thông tin thời sự đã giúp thanh thiếu niên nâng cao nhận thức và kiến thức.

II. Thách thức trong việc phát triển kiến thức cho giới trẻ qua truyền hình

Mặc dù Đài Truyền Hình Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc phát triển nội dung cho giới trẻ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Sự cạnh tranh từ các nền tảng truyền thông mới và sự thay đổi trong nhu cầu của khán giả trẻ là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Sự cạnh tranh từ các nền tảng truyền thông mới

Các nền tảng như YouTube, Facebook đang thu hút sự chú ý của giới trẻ, khiến cho Đài Truyền Hình phải tìm cách đổi mới nội dung và hình thức để giữ chân khán giả.

2.2. Nhu cầu thay đổi của giới trẻ hiện nay

Giới trẻ hiện nay có nhu cầu tiếp nhận thông tin nhanh chóng và đa dạng. Điều này đặt ra yêu cầu cho Đài Truyền Hình phải cập nhật và đổi mới nội dung thường xuyên.

III. Phương pháp phát triển nội dung truyền hình cho giới trẻ

Để đáp ứng nhu cầu của giới trẻ, Đài Truyền Hình Việt Nam cần áp dụng các phương pháp phát triển nội dung sáng tạo và hấp dẫn. Việc kết hợp giữa giáo dục và giải trí sẽ giúp thu hút sự quan tâm của khán giả trẻ.

3.1. Kết hợp giáo dục và giải trí trong chương trình

Các chương trình truyền hình cần được thiết kế để vừa mang tính giáo dục vừa giải trí, giúp giới trẻ tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và thú vị.

3.2. Sử dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất chương trình

Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất chương trình sẽ giúp nâng cao chất lượng hình ảnh và âm thanh, tạo ra trải nghiệm tốt hơn cho khán giả.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Đài Truyền Hình

Nghiên cứu cho thấy rằng Đài Truyền Hình Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc phát triển nội dung cho giới trẻ. Các chương trình đã nhận được phản hồi tích cực từ khán giả, đặc biệt là trong việc giáo dục và định hướng.

4.1. Phân tích phản hồi từ khán giả trẻ

Khán giả trẻ đã bày tỏ sự hài lòng với các chương trình truyền hình hiện tại, đặc biệt là những chương trình mang tính giáo dục cao.

4.2. Kết quả từ các chương trình truyền hình dành cho giới trẻ

Các chương trình như VTV6 đã thu hút được lượng lớn khán giả trẻ, chứng tỏ sự cần thiết và hiệu quả của việc phát triển nội dung dành riêng cho nhóm đối tượng này.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho Đài Truyền Hình Việt Nam

Đài Truyền Hình Việt Nam cần tiếp tục phát triển và đổi mới nội dung để đáp ứng nhu cầu của giới trẻ. Việc xây dựng các chương trình chất lượng cao sẽ giúp nâng cao vai trò của truyền hình trong việc giáo dục và định hướng cho thế hệ trẻ.

5.1. Định hướng phát triển nội dung cho giới trẻ

Đài Truyền Hình cần xác định rõ định hướng phát triển nội dung, tập trung vào các vấn đề mà giới trẻ quan tâm.

5.2. Tăng cường hợp tác với các tổ chức giáo dục

Việc hợp tác với các tổ chức giáo dục sẽ giúp Đài Truyền Hình phát triển các chương trình chất lượng, đáp ứng nhu cầu học tập của giới trẻ.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TRUYỀN HÌNH VÀ NHU CẦU THÔNG TIN CỦA XÃ HỘI Báo chí là kênh đáp ứng nhu cầu thông tin tuyệt hảo của con người về đời sống. Các thông tin về chính trị – xã hội – kinh tế – văn hoá trên toàn cầu đều được báo chí phản ánh. Báo chí trở thành người bạn thân thiết với con người trong nhiều lĩnh vực: cung cấp thông tin, chia sẻ thông tin và tình cảm, 17 Trịnh Thị Thu Nga Lớp cao học Báo chí K9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ Báo chí học chia sẻ kinh nghiệm, gợi mở hay định hướng về các vấn đề trong cuộc sống. Đến nay, có thể khẳng định rằng, xã hội hiện đại không thể thiếu báo chí.

Báo in là thành viên đầu tiên trong “gia đình” các loại hình báo chí, nó đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ về ý thức tiếp nhận thông tin trên báo. Sau báo in, phát thanh đã ra đời. Phát thanh, với sự lan toả của sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, đã nhanh chóng chiếm được cảm tình từ phía công chúng nhờ sự sinh động của âm thanh và khả năng phủ sóng rộng rãi. Song, nhu cầu của con người luôn thay đổi, phát triển rất đa dạng cho nên truyền hình đã xuấ hiện.

Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng truyền hình nhanh chóng bộc lộ những ưu thế vượt trội về khả năng thoả mãn thông tin cho công chúng và nó chiếm vị trí số 1 trong suốt thế kỷ XX. Với sự phát triển của khoa học công nghệ, kỹ thuật truyền hình ngày càng hoàn thiện vai trò truyền thông của nó. Truyền hình đã thể hiện sức mạnh to lớn trong việc tác động vào tâm lý tiếp nhận của công chúng và thổi phồng nhanh chóng quả cầu thông tin. Dư luận xã hội trở thành những làn sóng xuyên lục địa đi khắp thể giới theo “bước chân” của truyền hình.

Sức mạnh của thông tin truyền hình 1.1 Khái niệm Truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh truyền thông truyền hình. Trong đó: hình ảnh động và âm thanh là hai yếu tố cấu thành ngôn ngữ truyền hình và yếu tố hình ảnh được nhấn mạnh và là thành phần chủ đạo. 18 Trịnh Thị Thu Nga Lớp cao học Báo chí K9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ Báo chí học Hình ảnh là chất liệu cơ bản của truyền hình. Nó góp phần giúp công chúng nhận thức thực tiễn xung quanh một cách khoa học và hiện thực hơn.

Hình ảnh chủ yếu và đặc trưng trong truyền hình là hình ảnh động về hiện thực cuộc sống nhằm tái tạo một cách khách quan sự kiện theo những gì nó diễn ra. Ngoài ra, truyền hình còn sử dụng các loại hình ảnh tĩnh như ảnh tư liệu, mô hình, sơ đồ, chữ in,. Đây là lợi thế vượt trội của truyền hình vì nó là những điều “mắt thấy tai nghe”, yếu tố đặc biệt tác động vào niềm tin của con người. Con người tiếp nhận thông tin qua thính giác chỉ đạt 11% lượng thông tin nói ra, qua thị giác có thể đạt được 83% còn nếu vừa tiếp nhận bằng thị giác vừa bằng thính giác thì có thể đạt tới 94% lượng thông tin phát ra.

Nếu so sánh với các loại truyền thông đại chúng khác, truyền hình sử dụng tổng hợp tất cả các loại thông tin có trong báo, phát thanh, phim ảnh. và nó đang chiếm ưu thế vượt trội về khả năng thu hút công chúng. Âm thanh trong truyền hình bao gồm: lời nói của con người, âm nhạc (có lời và không lời), tiếng động. Trong các chương trình dàn dựng có hậu kỳ, người ta có thể tạo ra các âm thanh, tiếng động nhân tạo để mang lại hiệu quả thể hiện cao hơn.

Truyền hình ra đời đã nhanh chóng chiếm lĩnh số lượng công chúng hơn hẳn các loại hình báo chí khác (báo in, phát thanh) vì nó khắc phục được những nhược điểm mà các loại hình báo chí có trước còn tồn tại. Công chúng được mắt thấy, tai nghe những gì xảy ra từ một nơi nào đó trên trái đất mà không phải lặn lội đi đến đó. Chính nhờ vậy, truyền hình đã trở thành loại hình thông tin đại chúng tuyệt hảo đối với công chúng trong thế kỷ XX. Giới truyền thông gọi thế kỷ XX là thế kỷ của truyền hình.

19 Trịnh Thị Thu Nga Lớp cao học Báo chí K9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ Báo chí học 1.2 Lịch sử Truyền hình xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XX (năm 1923 kỹ sư người Scotland, ông J. Bert đã phát minh là một chiếc máy có khả năng hiện hình ảnh nhận từ tín hiệu điện từ, sau này ta gọi là vô tuyến truyền hình hay tivi), nó phát triển nhanh chóng nhờ ứng dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Từ khoảng năm 1932, đài BBC của Anh bắt đầu phát các chương trình truyền hình thường kỳ với cách thức thể hiện và các phương tiện kỹ thuật thô sơ, đến nay truyền hình đã phát triển nhanh chóng về cả nội dung lẫn hình thức truyền tải thông tin. Mạng lưới truyền hình đã và đang được mở rộng nhờ sự tiến bộ của khoa học – công nghệ.

Hiện trên thế giới có các loại truyền hình sau: ­ Truyền hình quảng bá: được phát sóng lên không trung chỉ cần có máy thu hình (tivi) và ăng ten là xem được. Ở Việt Nam, truyền hình quảng bá đồng nghĩa với truyền hình annalog. ­ Truyền hình kỹ thuật số: ứng dụng kỹ thuật số vào việc thu, phát truyền hình. ­ Truyền hình trực tuyến: truyền hình thu và phát trực tiếp thông qua mạng truyền Ineternet và được xem qua các trang web có liên kết với kênh truyền hình.

­ Truyền hình công nghệ độ phân giải cao: là dịch vụ truyền hình có độ phân giải cao (High Definition TV – full HD) với độ phân giải cao nhất tính đến thời điểm 2008 là 1.080 pixel đã được một số kênh truyền hình trên thế giới phát song song. Tại Việt Nam, truyền hình công nghệ độ phân giải cao được đưa vào thử nghiệm ở Trung tâm truyền hình Cáp TP Hồ Chí Minh (HTVC) từ tháng 8 năm 2008. Chuẩn 20 Trịnh Thị Thu Nga Lớp cao học Báo chí K9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ Báo chí học phát dịch vụ này thường là Full HD 1080i với tỉ lệ khuôn hình 16:9 và tín hiệu âm thanh 5.1 thường dùng trong rạp hát. Về mặt nội dung thông tin: thời gian đầu, truyền hình được sử dụng như một phương tiện giải trí và thông tin ít ỏi về các vấn đề chính sự, kinh tế dần dần nó thể hiện vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho đời sống xã hội.

Ngày nay, truyền hình cũng như các loại hình báo chí khác đã và đang tham gia tích cực vào quá trình giám sát xã hội, định hướng dư luận giáo dục nhân dân, thậm chí truyền hình còn trở thành công cụ hữu hiệu cho các tổ chức, đảng phái và các cá nhân quảng bá về sức mạnh và tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng… Nhận thức được vai trò của truyền hình, tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm, đầu tư phát triển truyền hình. Hệ thống truyền hình được phát triển rộng rãi bao gồm cả truyền hình quốc gia và truyền hình tư nhân ở các nước trên thế giới, riêng Việt Nam chỉ có truyền hình quốc gia. Truyền hình Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với các biến động của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Vào quý I năm 1967, lãnh đạo đài Đài Tiếng nói Việt Nam đã sang thăm và ký kết với viện phát thanh truyền hình Cu Ba (ICRT) một hiệp định song phương, trong đó Cu Ba nhận giúp Việt Nam đào tạo cán bộ làm truyền hình.

Khi trở về nước, lãnh đạo Đài Tiếng nói đã nhanh chóng lựa chọn 16 cán bộ từ các trung tâm âm thanh và các đài phát sóng để tập huấn lý thuyết về truyền hình. Đến tháng 4 năm 1968, đoàn cán bộ lên đường sang Cu Ba học và thực tập. Sau 18 tháng học và thực tập tại Đài truyền hình trung ương Cu Ba các cán bộ truyền hình đầu tiên này đã trở về nước và nỗ lực xây dựng những thiết bị ban đầu cho ngành truyền hình. Tháng 9 năm 1970, chương trình truyền hình đầu tiên để ra mắt Đài truyền hình Việt Nam gồm 15 phút thời sự và 30 phút ca nhạc đã thành 21 Trịnh Thị Thu Nga Lớp cao học Báo chí K9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ Báo chí học công.

Những gương mặt đầu tiên xuất hiện trên sóng truyền hình là phát thanh viên Lan Hương, Nguyễn Thơ, cùng các ca sĩ nổi tiếng như: Thanh Huyền, Bích Liên, Thuý Hà, Kiều Hưng … Đúng 30 tết âm lịch năm 1971, Đài tổng diễn tập lần cuối và chương trình được phát sóng vào đêm giao thừa cho công chúng thủ đô và các vùng lân cận theo dõi. Sau đó Đài Truyền hình Việt Nam (viết tắt là VTV) chính thức phát sóng có định kỳ: lúc đầu phát 3 buổi/tuần, sau tăng lên 4 buổi, năm buổi. Đến nay, các chương trình truyền hình đã toả rộng trên cả nước và truyền hình ảnh đi khắp thế giới. Đài truyền hình Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ với các kênh VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5, VTV6, VTV9 và các kênh truyền hình Cáp cũng như hệ thống đài phát thanh – truyền hình địa phương.

Truyền hình đã trở thành một phần thiết yếu không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của người dân Việt. Để đáp ứng được nhu cầu thông tin và sánh kịp ngành truyền hình trên thế giới, Đài truyền hình Việt Nam đang từng bước cải tiến nội dung các chương trình, mở rộng thêm các kênh và ứng dụng nhanh chóng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất truyền hình. Xã hội hoá truyền hình và tiến tới đáp ứng nhu cầu của từng nhóm công chúng lớn là một trong những hướng phát triển của nhà Đài (đây cũng là mục tiêu của rất nhiều các đài truyền hình trên thế giới). Với sự hỗ trợ của Internet, Đài truyền hình đã nhanh chóng truyền các chương trình qua mạng giúp công chúng có thể xem truyền hình bất kỳ khi nào họ muốn.

Chắc chắn, với mục tiêu xã hội hoá truyền hình và sự kết hợp mạnh dạn các tiến bộ khoa học công nghệ, truyền hình Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XI. 22 Trịnh Thị Thu Nga Lớp cao học Báo chí K9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ Báo chí học 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ