Chương 1: MOT SO VAN DE CHUNG VE ĐẠI DIỆN NGƯỜI SỬ DỤNG LAO DONG VA PHAP LUAT DAI DIEN NGUOI SU DUNG LAO DONG 1. Dai diện người sử dung lao động 1. Khái niệm dai diện người sw dung lao động Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường gồm nhiều mô hình khác nhau, trong đó có quan hệ lao động giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ và QHLĐ giữa tập thê NLD với NSDLĐ. QHLD cá nhân chỉ liên quan đến van dé thỏa thuận quyền và lợi ich của từng cá nhân trên cơ sở thực hiện hợp đồng lao động.
QHLD tập thé được hiểu là quan hệ giữa tập thé lao động với NSDLD về các van đề phát sinh liên quan đến tập thê lao động. Theo đó, chủ thê của quan hệ lao động tập thể này có một bên là tập thể lao động đó là tô chức công đoàn hoặc đại diện của NLD. NLD họ tự cử ra đại điện cho mình nhất là trong những đơn vị chưa có tô chức công đoàn. Trong quan hệ lao động tập thể tại một đơn vị sử dụng lao động, chủ thể của mỗi quan hệ này cũng bao gồm hai bên, bao gồm: một bên là đơn vị sử dụng lao động, hay gọi cách khác là người sử dụng lao động hay người thuê lao động và một bên là đại diện cho tập thể người lao động làm thuê cho chủ sử dụng lao động đó.
Theo quan niệm truyền thống, trong quan hệ lao động, NLD thường ở vi trí yếu thế, lệ thuộc vào NSDLĐ, sự phụ thuộc này có thể ở những mức độ khác nhau nhưng tôn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển. Sự tiễn bộ của loài người chỉ có thé giảm bớt những phụ thuộc quá mức cần thiết, giải phóng NLD dé họ được tự do và hưởng quyền con người một cách đầy đủ chứ không thé xóa bỏ nó một cách hoàn toàn. Yếu tổ phụ thuộc này được NLD và NSDLD mặc nhiên thừa nhận và xem như một tồn tại khách quan vì yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất luôn chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu. Chính vì thế nhu cầu tập hợp, liên kết giữa những NLĐ với nhau thông qua việc thành lập, gia nhập tô chức công đoàn để tạo nên sức mạnh tập thể, tạo ra sự cân băng ở mức tương đối với NSDLĐ dé đại diện va bảo vệ họ một cách hiệu quả.
Tuy vậy, dù NSDLĐ được coi là phía mạnh hơn nhưng họ cũng có nhu cầu liên kết băng việc thành lập hoặc tham gia một hoặc một số tô chức của họ thiết lập để tham gia vào quá trình đàm phán, củng cố quyền quản lý, phát triển tại đơn vị sử dụng lao động và thúc đây quan hệ lao động, được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, đặc biệt khi các quyền, lợi ích đó vượt ra ngoài đơn vi sử dụng lao động như ở cấp độ ngành, khu vực hay cấp quốc gia. Trong mối quan hệ tập thể với nhà nước hoặc với đại điện tập thể lao động ở cấp độ ngoài doanh nghiệp, đặc biệt trong cơ chế ba bên, từng NSDLĐ không thé tham gia một cách đơn lẻ mà cần thiết phải có sự hiện diện của tổ chức đại diện NSDLĐ để đại diện cho họ. Điều này càng trở nên quan trọng và cần thiết trong nền kinh tế thị trường. Theo Từ điển tiếng Việt, đại diện là “thay mặt cho cá nhân hoặc tập thể” hoặc “người được cử thay mặt cho cá nhân hoặc tập thé”' nên đưới góc độ ngôn ngữ có thé hiểu đại điện NSDLD là sự thay mặt cho cá nhân NSDLĐ hoặc tô chức NSDLĐ.
Tổ chức có tính đại diện là tổ chức có thê thay mặt được cho tất cả các thành viên của mình. Xuất phat từ sự đông đảo của NSDLD trên cả nước nên tổ chức NSDLĐ chỉ có tính đại diện nếu thu hút được tất cả NSDLĐ trong các ngành, các khu vực, thành phan kinh tế hoặc là một tổ chức liên hiệp các tổ chức của gidi SỬ dụng lao động. Tính đại diện được xem là tiêu chí cơ bản của tổ chức đại diện NSDLĐ vì như vậy mới đảm bảo phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của tất cả NSDLĐ. Nếu không, chức năng của nó đơn thuần chỉ giống như một tô chức của NSDLD, không thé tham gia cùng với nhà nước và tổ chức đại diện NLD tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh trong QHLĐ.
Trên thế giới, pháp luật quốc tế rất chú trọng đến QHLD tập thể cũng như rất chú trọng đến bên đại diện của NLD va đại diện của NSDLĐ để hài hòa, cân bằng lợi ích giữa các bên. Vai trò đại diện cho giới sử dụng lao động rất được ILO coi trọng. Theo ILO, trong các công ước và khuyến nghị dé điều chỉnh QHLĐ toàn cầu đã có nhiều công ước liên quan đến vấn đề về lao động. ILO định nghĩa thì “Quan hệ lao động là những moii quan hệ cá nhân và tập thể giữa những người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các moii quan hệ giữa các dai diện lao động cua họ với nhà nước ”*.
Cũng có quan điểm tiếp cận quan hệ lao động theo nghĩa rộng va xác định quan hệ lao động là “quan hệ giữa người với người trong lao động”. Bên cạnh đó, quan hệ lao động cũng được hiéu là “một hệ thong bao gồm nhiêu chủ thé tương tác lẫn nhau trong quá trình lao động sản xuất”. ' Hoàng Phê (Chủ biên) (2013), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. ? Nguyễn Tiệp (2008), Giáo trình Quan hệ lao động, Nxb.
Lao động — Xã hội, Hà Nội, tr. 3 Phạm Công Trứ (Chủ Biên) (2005), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb. Dai học Quoc gia Hà Nội, Ha Nội, tr. 4 Nguyễn Tiệp (2008), Giáo trình Quan hệ lao động, Nxb.Lao động — Xã hội, Hà Nội, tr.
Trong Điều lệ năm 1919, ILO xác định các van dé cơ bản như: nguyên tắc, tổ chức hoạt động, tôn chỉ, mục đích cơ cấu tô chức, tư cách thành viên đều quy định có sự tham gia của ba bên. Từ năm 1920, ở cấp độ quốc tế, tổ chức này đã ra đời với tên gọi: Tổ chức quốc tế của người sử dụng lao động (International Organisation of Employers — IOE) với vai trò hỗ trợ và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp trên toàn thế giới trong lao động và chính sách xã hội, với mục đích: thúc đây kinh tế, việc làm và chính sách xã hội, tạo môi trường cần thiết dé duy trì và phát triển các doanh nghiệp và nền kinh tế thị trường, cung cấp diễn đàn quốc tế dé liên kết với nhau, đại diện và thúc day lợi ich của các tô chức và các thành viên của tổ chức sử dụng lao động quốc gia trên toàn thé giới trong tất cả các van đề lao động và chính sách kinh tế - xã hội; hỗ trợ, tư vấn đại diện và cung cấp dịch vụ có liên quan và thông tin cho các thành viên, thiết lập, duy trì liên lạc giữa họ, phối hợp quyền lợi NSDLĐ ở cấp quốc tế, thúc đây và hỗ trợ sự tiễn bộ, tăng cường các tổ chức độc lập và tự chủ sử dụng lao động, nâng cao năng lực cho các thành viên; thông tin cho công luận, thúc đây sự hiểu biết về các đơn vị sử dụng lao động: tao điều kiện và thúc day sự trao đôi, chuyển giao thông tin, kinh nghiệm thực tiễn giữa các thành viên”. Ở Việt Nam, trước đây chưa hề đề cập đến van đề về đại diện NSDLD. Hiện nay, quy định tại khoản 5 Điều 3 BLLĐ năm 2012 định nghĩa: “Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tô chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động”.
Từ đó có thé thấy quy định của pháp luật Việt Nam là phù hop với tinh thần của ILO, đã bao quát định nghĩa day du vé tinh hop phap khi thanh lap, muc dich thanh lap, pham vi hoạt động cua tô chức đại diện NSDLD. Qua đó, đại diện NSDLD là một thực thé xã hội đặc thù, khi được pháp luật quy định thì tạo thành một chế định riêng của luật lao động với đặc trưng cơ bản: Một là, đại điện NSDLD thé hiện quyền của NSDLD, một trong những quyền con người được Đại hội đồng liên hợp quốc ghi nhận”. Việt Nam là một trong các quốc gia đã phê chuẩn công ước này đảm bảo thực thi quyền đại điện NSDLĐ trên thực tế khi tham gia vào các QHLĐ. ” Nguyễn Hang Hà, “Tham quyền của tô chức đại diện người sử dụng lao động trong các quan hệ pháp luật”, Tạp chí luật học SỐ 3/2016 Ộ ¬ ; ° Điều 23 Tuyên bố chung của Đại Hội đông Liên Hợp quôc vê quyên con người thông qua ngày 10/12/1948.
10 Hai là, đại diện NSDLD phan ánh ý chí tự do, tự nguyện của NSDLD trong việc: tự do tô chức, thành lập, gia nhập tô chức đại diện; thông qua điều lệ hoạt động của tô chức; hoạt động theo pháp luật mà không chịu sự can thiệp của đối tác xã hội khác. Ba là, đại diện NSDLD sắn với QHLD, được nhà nước va tô chức lao động khác thừa nhận, như một quyền năng pháp lý và có những cơ chế đảm bảo thực hiện. Vai trò của đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động Trong mối quan hệ lao động, tô chức đại điện NSDLD có vai trò bảo vệ các thành viên là những NSDLĐ, là một trong những yêu cau quan trọng hang dau của tổ chức đại điện NSDLD. Vai trò của tổ chức đại điện NSDLD được thé hiện qua các phương diện: Thứ nhát, đại diện NSDLĐ thực hiện hoạt động bảo vệ thông qua việc tham gia hoạch định chính sách, pháp luật nhằm tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động của các thành viên của mình.
Với khả năng phản ánh đầy đủ, chính xác và kịp thời những tâm tư, nguyện vọng của NSDLĐ ở các đơn vị sử dụng lao động, tổ chức đại diện NSDLD có vai trò phối hợp cùng với chính phủ và tổ chức dai diện NLD tham gia xây dựng các chính sách pháp luật trong các lĩnh vực lao động. Tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, công bằng cho các hoạt động của các thành viên của tổ chức mình. Chức năng này được gọi như chức năng bảo vệ từ xa, mang tính chiến lược và lâu dài. Thứ hai, đại điện NSDLĐ thực hiện các hoạt động bảo vệ NSDLP trong OHLD.
Các hoạt động này chủ yếu được tiễn hành khi có yêu cầu hoặc tô chức đại diện NSDLĐ cho là cần thiết hoặc theo quy tắc nội bộ, theo các quy định của pháp luật.