chương 1 bàn về sự ra đời của tranh sơn thủy, chương 2 nói đến sự xuất hiện của hình thức kim bích và thủy mặc trong tranh sơn thủy thời Tùy và thời Đường. Chương 3 và chương 4 lần lượt đề cập đến sự hình thành của hai phái tranh sơn thủy miền Nam và miền Bắc vào thời Ngũ đại, cùng với sự thành thục cao độ của tranh sơn thủy thời Tống. Chương 5 nói đến sự phát triển của tranh sơn thủy văn nhân thời Nguyên. Chương 6 có nội dung về tranh sơn thủy thời Minh và thời Thanh.
Công trình tuy chỉ sơ lược quá trình phát triển của tranh sơn thủy, còn nhiều nội dung và thời đại chưa được đề cập, nhưng vẫn có tác dụng trong việc khảo cứu lịch sử hình thành và phát triển của tranh sơn thủy của luận án. Sách Ý tượng dữ sắc thái – Sơn thủy họa thiết sắc vấn đề nghiên cứu của La Dĩnh dài 113 trang, chia làm 7 chương. Nội dung của công trình nghiên cứu vấn đề vận dụng màu sắc qua các khía cạnh tính ý tượng, khí vận, bút mực, tạo cảnh trong tranh sơn thủy. Cụ thể nội dung các chương tiếp cận như: tính ý tượng cùng với truyền thống thiết sắc của tranh sơn thủy Trung Quốc (chương 2), giải thích “tùy loại phú thái” (tùy nội dung sử dụng màu sắc) trong lục pháp luận của Tạ Hách (chương 3); mối quan hệ giữa khí vận với màu sắc (chương 4); mối quan hệ màu sắc với bút mực (chương 5); đặc điểm dùng màu sắc để tạo cảnh (chương 6); việc vận dụng màu sắc trong hội họa cận hiện đại (chương 7).
Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc khảo cứu việc vận dụng màu sắc trong tranh sơn thủy. Sách Cổ đại sơn thủy họa luận của Yên Hiểu Lỗi có 390 trang tuyển tập các trích dẫn về quan niệm và lý luận đối với tranh sơn thủy cổ đại của các họa gia, nhà lý luận hội họa Trung Quốc từ trong các tác phẩm của họ (chủ yếu giai đoạn thời Đường đến thời Thanh). Các trích dẫn được phân chia vào 24 nhóm chủ đề lý luận cụ thể về tranh sơn thủy, chẳng hạn như lý luận về chức năng, sáng tác, khí vận, ý cảnh, bút mực, thiết sắc… Các trích dẫn này là cơ sở và minh chứng cho những luận điểm, luận cứ được đưa ra trong luận án. 8 Nhìn chung, các công trình thuộc nhóm các sách tiếng Hán tập trung chủ yếu ở hai khía cạnh của tranh sơn thủy Trung Quốc, đó là lịch sử phát triển và lý luận về cấu trúc nghệ thuật.
Trong phạm vi bao quát của đề tài, số công trình nghiên cứu chuyên sâu về các đặc điểm văn hóa của tranh sơn thủy một cách toàn diện còn khá ít. Tuy nhiên, nội dung trong những công trình này sẽ góp phần làm sáng rõ luận điểm ở một vài chương mục trong luận án. Nhóm các sách viết bằng tiếng Hán được dịch sang tiếng Việt Bộ phận các công trình có đề cập đến tranh sơn thủy Trung Quốc được dịch ra tiếng Việt có thể được chia thành hai nhóm: nhóm các sách viết về tổng quan văn hóa Trung Hoa và nhóm các sách viết về mỹ thuật, hội họa Trung Quốc. Trong phạm vi bao quát của đề tài, một vài cuốn đáng nêu ra như: Mỹ thuật Trung Quốc (Đặng Phúc Tinh & Hoàng Lan, 2001), Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa (Dương Lực, 2002), Cội nguồn văn hóa Trung Hoa (Đường Đắc Dương (cb), 2003), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc (Ngô Vinh Chính (cb), 2004), Lịch sử văn minh Trung Hoa (Phùng Quốc Siêu (cb), 2004), Hội họa Trung Hoa qua lời các vĩ nhân và danh họa (Lâm Ngữ Đường, 2005)… Sách Mỹ thuật Trung Quốc của Đặng Phúc Tinh và Hoàng Lan tập hợp nhiều bài viết ngắn, có thể chia làm hai phần: phần đầu viết về thư pháp và các hình thức văn tự như linh hồn của mỹ thuật Trung Quốc; phần sau bàn về hội họa Trung Quốc.
Nội dung của công trình này cũng giống như nhiều sách viết về hội họa Trung Quốc, đều bám sát quá trình phát triển của hội họa thông qua những tác gia, tác phẩm, thể loại, đề tài và một vài đặc trưng tiêu biểu. Trong đó, tranh sơn thủy thỉnh thoảng được nhắc đến, điển hình là phần viết khoảng 4 trang về 4 danh họa sơn thủy nổi bật đời Nguyên (Hoàng Công Vọng, Nghê Toản, Ngô Trấn, Vương Mông). Chương 130 (trang 767 đến trang 804) thuộc phần 20 trong quyển 11 của bộ sách Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa nói đến mỹ thuật cổ điển Trung Quốc. Nội dung của chương bàn về mối quan hệ giữa mỹ học Chu dịch với hội họa cổ điển Trung Quốc.
Tranh sơn thủy được nhắc đến thông qua việc miêu tả mối quan hệ động – tĩnh, hư – thực, cương – nhu. Ngoài ra, chương này còn đề cập khái niệm 9 truyền thần tả ý trong hội họa Trung Quốc và một số tác gia tiêu biểu như Cố Khải Chi (với ba bài lý luận về hội họa), Tạ Hách (với lục pháp), Kinh Hạo (với Bút pháp ký). Từ đó bước đầu đưa ra những gợi mở rất có ý nghĩa. Trong chương 5 cuốn Cội nguồn văn hóa Trung Hoa của Đường Đắc Dương (viết về văn học nghệ thuật), hội họa được đề cập từ trang 924 đến trang 938 với đề mục “Truyền thần tả ý”.
Tuy nhiên, trong khoảng 14 trang sách, đặc điểm này không được khai thác, nội dung chính vẫn là khái quát quá trình phát triển, một số đặc điểm, loại hình, phong cách và tác gia tiêu biểu của hội họa Trung Quốc qua các thời kỳ. Tranh sơn thủy thời Tùy – Đường được nhắc đến với nội dung chỉ khoảng 1 trang. Sách Hội họa Trung Hoa qua lời các vĩ nhân và danh họa của Lâm Ngữ Đường là một tài liệu hay về hội họa Trung Quốc. Công trình gồm 23 trích đoạn được sắp xếp theo trục thời gian từ thế kỷ 6 trước Công Nguyên đến thế kỷ 18.
Nội dung bàn về mục đích, khuynh hướng, những đặc trưng chính (về kỹ thuật, nội dung) và lịch sử phát triển của hội họa Trung Quốc thông qua bút tích của các danh họa và các nhà phê bình nghệ thuật người Trung Quốc. Tuy nhiên, đặc điểm văn hóa của hội họa không phải là hướng tiếp cận chính của công trình nên chưa được thể hiện rõ rệt qua những lời bình phẩm. Lục pháp của Tạ Hách được nhắc đến khá nhiều trong công trình. Trong một số trích đoạn có bàn về tranh sơn thủy, nội dung chủ yếu là phong cách các nhà danh họa, các kỹ thuật vẽ, cách dùng mực, kỹ thuật quan sát, bố cục của một số tác phẩm.
Nhìn chung, trong các sách ở nhóm này, tranh sơn thủy chưa phải là đề tài khai thác chính, chỉ được phân bổ rải rác trong các nội dung tổng quan về hội họa Trung Quốc. Các đặc điểm của tranh sơn thủy (nếu có) được đề cập dưới góc độ sử học và nghệ thuật học nhưng thiên về miêu tả. Tuy vậy, nội dung của các sách cũng có những giá trị tham khảo nhất định cho luận án. Tình hình nghiên cứu ở phương Tây Tình hình nghiên cứu hội họa Trung Quốc ở phương Tây được khái quát thông qua các tổng thuật của một vài bài viết được đăng trên các tạp chí ở Trung Quốc, như “Nghiên cứu tranh Trung Quốc của phương Tây” (Phương Văn, in trong 10 hệ thống ấn phẩm Phương pháp luận nghiên cứu tranh Trung Quốc, 2000), “Từ mấy loại phương pháp nghiên cứu lịch sử nghệ thuật phương Tây nhìn về cách nghiên cứu lịch sử hội họa Trung Quốc” (Bạch Nguy, trên Tạp chí Đại học Bắc Kinh - bản Triết học và Khoa học xã hội, 2006), “Nghiên cứu tranh Trung Quốc quá khứ và hiện tại” (Trần Bảo Chân, trong tạp chí Thông tấn nghiên cứu Hán học, 2009), “Tổng thuật nghiên cứu lý luận tranh cổ đại Trung Quốc của các họa gia Âu Mỹ thế kỷ 20” (Ân Hiểu Luy, trong tạp chí Thư họa Trung Quốc, 2015).
Bài viết “Nghiên cứu tranh Trung Quốc của phương Tây” của Phương Văn đưa ra so sánh chung giữa các nghiên cứu của Trung Quốc và phương Tây về tranh Trung Quốc. Phương Văn chú ý đến đặc điểm phong cách truyền thống và sự thay đổi mang tính lịch sử của cấu trúc thị giác. Ông cho rằng các nghiên cứu của Trung Quốc có xu hướng nhấn mạnh vào sức mạnh của sự liên tục của truyền thống, mà bỏ qua những định nghĩa mang tính lịch sử do thời đại tạo ra. Ngược lại các học giả hiện đại phương Tây chuyên phân tích phong cách lại tập trung vào thời đại mà không nghiên cứu truyền thống riêng biệt, cố gắng phân loại các bức tranh mà không chú trọng miêu tả chúng.
Bằng cách phân tích mối quan hệ giữa các hình thức trong tranh, cấu trúc hình tượng thị giác, các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật hiện đại có thể phác họa các đặc trưng của từng thời đại, giải thích phong cách của các bậc thầy hội họa qua những thay đổi của hình ảnh trong tranh. Khoảng những năm 1960, ở phương Tây xuất hiện các công trình nghiên cứu chuyên sâu lịch sử hội họa Trung Quốc. Nhiều học giả Mỹ đã có nhiều cách tiếp cận mới mẻ hơn, chẳng hạn như thử nghiệm nghiên cứu tranh Trung Quốc từ góc độ xã hội và kinh tế. Bài viết “Từ mấy loại phương pháp nghiên cứu lịch sử nghệ thuật phương Tây nhìn về cách nghiên cứu lịch sử hội họa Trung Quốc” của Bạch Nguy chia làm 2 phần: phần đầu giới thiệu về ba phương pháp nghiên cứu nghệ thuật của phương Tây, phần hai nói đến tính đặc thù trong nghiên cứu hội họa truyền thống Trung Quốc.
Nội dung của bài viết có giá trị tham khảo về mặt lý luận cho luận án, mở rộng thêm cách nhìn so sánh về việc nghiên cứu hội họa của Trung Quốc và của phương Tây. Ba phương pháp nghiên cứu của phương Tây được đưa ra gồm phân 11 tích phong cách, đồ tượng học, nghiên cứu bối cảnh văn hóa. Với phương pháp phân tích phong cách, theo học giả Shapiro, sự biểu đạt của phong cách liên quan đến 3 phương diện của nghệ thuật là hình thức, mối quan hệ hình thức và đặc trưng. Phương pháp thứ hai là phương pháp đồ tượng học (hình tượng học).
Cùng một motif trong các tác phẩm khác nhau thì ý nghĩa biểu tượng của chúng sẽ thay đổi. Phương pháp này là sự giải thích văn hóa có liên quan đến ý nghĩa của tác phẩm và nội dung motif. Phương pháp thứ ba là nghiên cứu bối cảnh văn hóa.