Chương 1: Bối cảnh thời đại, tiểu sử, mô hình nhân cách, quá trình sáng tác và hình ảnh xã hội thời tao loạn qua sáng tác Phạm Thái 1.1 Bối cảnh thời đại, tiểu sử, mô hình nhân cách, quá trình sáng tác 1.1 Bối cảnh thời đại 1.2 Tiểu sử, mô hình nhân cách 1.3 Quá trình sáng tác 1.2 Hiện thực xã hội đƣơng thời trong sáng tác Phạm Thái 1.1 Hình ảnh xã hội thời tao loạn và cuộc sống của ngƣời dân 1.2 Giai cấp thống trị, bộ máy quan lại Chương 2: Chân dung người anh hùng thời loạn và khuôn hình tài tử phong lưu qua sáng tác của Phạm Thái 2.1 Chân dung ngƣời anh hùng thời loạn qua sáng tác Phạm Thái 2.1 Phạm Thái là một nhà nho chính thống, đƣợc hƣởng chế độ giáo dục phong kiến.2 Con ngƣời ngông nghênh, kiêu ngạo, khinh bạc, thể hiện tƣ tƣởng lớn nhƣng thƣờng cực đoan.3 Ngƣời anh hùng bị thất bại trên con đƣờng chính trị nên gay gắt, hằn học, thở than, trách móc.2 Khuôn hình tài tử phong lƣu qua ngòi bút Phạm Thái 2.1 Lối sống “ngao du sơn thủy” tự do, phóng khoáng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các thú vui tao nhã “bầu rƣợu túi thơ”, “cầm kỳ thi họa”.3 Con ngƣời đa tình và tự do trong tình yêu. Tiểu kết: Thơ văn Phạm Thái có những màu sắc tôn giáo khác nhau Chương 3: Những đặc điểm và đóng góp về mặt nghệ thuật thơ văn Phạm Thái 3.1 Một trong những ngƣời đi đầu trong việc cách tân thể thơ trữ tình tiếng Việt, đƣa thể thơ này lên một cung bậc mới 3.2 Ngƣời đầu tiên viết truyện Nôm từ chính chất liệu của cuộc đời mình. Truyện thơ này đã đạt tới thành công xuất sắc về mặt nội dung cũng nhƣ nghệ thuật 3.3 Xem xét lại tác phẩm Chiến tụng Tây Hồ phú nhƣ một danh tác của Phạm Thái Cuối cùng là Kết luận và Tài liệu tham khảo. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH THỜI ĐẠI, TIỂU SỬ, MÔ HÌNH NHÂN CÁCH, QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ HÌNH ẢNH XÃ HỘI THỜI TAO LOẠN QUA SÁNG TÁC PHẠM THÁI 1.1 Bối cảnh thời đại, tiểu sử, mô hình nhân cách, quá trình sáng tác 1.1 Bối cảnh thời đại Hậu bán thế kỷ XVIII là một trong những giai đoạn rối ren nhất và cũng là một trong những giai đoạn hiếm hoi mà ngƣời Việt sau khi chịu đựng những thay đổi lớn lao, thấy đất nƣớc lớn mạnh hơn, dồi dào sinh lực hơn ngày trƣớc.
Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, biến cố tàn Lê, mạt Trịnh, sự phục hồi của họ Nguyễn, tất cả đầy biến động chỉ trong một thời gian ngắn. Ở nửa đầu thế kỷ XVIII, khi nhà nƣớc quân chủ của Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài đã suy thoái, thì ở Đàng Trong nền thống trị của họ Nguyễn vẫn còn tƣơng đối ổn định. Họ Nguyễn tiếp tục đẩy mạnh việc khai khẩn vùng đất phía Nam nhằm củng cố cơ sở cát cứ và làm dịu bớt những mâu thuẫn xã hội. Nhƣng từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, do sự phát triển của những mâu thuẫn nội tại, nhà nƣớc quân chủ ở Đàng Trong cũng mau chóng suy yếu.
Nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất diễn ra khá mạnh ở Đàng Trong. Tình hình ngày càng nghiêm trọng khi quan lại, địa chủ đua nhau tranh đoạt những thành quả khẩn hoang của nông dân hoặc dùng uy thế chiếm ruộng tƣ của họ và lấn chiếm của ruộng công làng xã. Thêm vào đó, chế độ thuế khóa của chính quyền họ Nguyễn vốn đã rất phức tạp. Các chúa Nguyễn thêm nhiều loại thuế để thỏa mãn nhu cầu xa xỉ của tầng lớp quý tộc và bộ máy quan liêu cồng kềnh.
Hàng năm có trăm thứ thuế mà trƣng thu thì phiền phức gian lận, nhân dân thống khổ về nỗi một cổ hai tròng. Một khi địa vị thống trị đã đƣợc củng cố, tầng lớp quý tộc ở Đàng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong ngày càng sống xa hoa, trụy lạc do của cải tích lũy đƣợc trong quá trình bóc lột nông dân. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765) thì đời sống xa hoa của tầng lớp thống trị lên đến cực độ. Sự thối nát của tầng lớp thống trị ở Đàng Trong cùng với bộ máy quan liêu phình ra khủng khiếp từ những năm 60 của thế kỷ XVIII.
Chỉ trong một xã có vô số chức sắc làm nạn mua quán bán tƣớc phổ biến, số quan lại ngày một tăng thêm. Sức sản xuất bị kìm hãm, đời sống nhân dân lầm than cơ cực. Thêm vào đó là nạn mất mùa đói kém từ năm 1769, trong khoảng 5 năm liền, nạn đói xảy ra liên tiếp. Với ý đồ biến Đàng Trong thành một quốc gia riêng biệt, đối lập hẳn với Đàng Ngoài, năm 1774, Nguyễn Phúc Khoát tự xƣng vƣơng, tự tổ chức chính quyền theo quy cách một triều đình và gọi thành Phú Xuân là “đô thành”.
Họ Nguyễn còn bắt dân Đàng Trong phải thay đổi phong tục tập quán, ăn mặc theo lối nhà Thanh, mƣu tính việc cát cứ lâu dài. Sang nửa sau thế kỷ XVIII, những mâu thuẫn chứa chất trong xã hội Đàng Trong ngày một gay gắt dẫn đến những cuộc nổi dậy của nông dân và các dân tộc thiểu số, kể cả thƣơng nhân. Trƣớc khi nổ ra cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, nhân dân các dân tộc dọc Trƣờng sơn và vùng Tây Nguyên đã nhiều lần nổi dậy. Ở miền xuôi cũng đã xuất hiện nhiều cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ mà cuộc khởi nghĩa của Lía ở Quy Nhơn có quy mô to hơn cả, ảnh hƣởng sâu rộng trong nhân dân.
Những cuộc đấu tranh lẻ tẻ trên chỉ mới là phần giáo đầu, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa nông dân to lớn và mãnh liệt là khởi nghĩa Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ ra ở ấp Tây Sơn năm 1771 do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Sau 17 năm (1771 - 1788) kể từ ngày bùng lên ở Quy Nhơn, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn đã nhanh chóng tiêu diệt các thế lực thống trị Nguyễn, Trịnh, Lê chia cắt đất nƣớc gây nội chiến tƣơng tàn. Một chiến công hiển hách nữa của triều đại Tây Sơn là đại phá quân Thanh.
Sau sự kiện này, Quang Trung nhìn thấy vấn đề cấp thiết trƣớc mắt là phải 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhanh chóng giải quyết tình trạng ruộng đất bỏ hoang, tận dụng sức lao động vào sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở đó mà bƣớc đầu phục hồi nền kinh tế tiểu nông đang bị phá hoại nghiêm trọng. Nhƣ vậy, chỉ trong vài năm đã thay đổi đến bảy đời vua, trong vòng hai mƣơi năm đã có biết bao thăng trầm, hƣng phế chớp nhoáng của bao nhiêu triều đại, vọng tộc, thôn xóm, thị thành, thân phận con ngƣời. Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn mà con đƣờng chính trị của các tầng lớp nho sĩ có sự phân hóa chƣa từng có trong lịch sử trung đại Việt Nam.
Họ phải đắn đo lựa chọn xem theo Tây Sơn hay trung thành với vua Lê - chúa Trịnh, chúa Nguyễn. Đến khi Nguyễn Ánh thắng lợi một lần nữa họ phải lựa chọn con đƣờng chính trị cho riêng mình.2 Tiểu sử, mô hình nhân cách Phạm Đan Phƣợng còn gọi Phạm Thái, Phạm Phƣợng Sinh, hiệu Chiêu Lì (hoặc Chiêu Lỳ); là một danh sĩ trong lịch sử Việt Nam. Ông sinh ngày 19 tháng Giêng năm Đinh Dậu (26 tháng 2 năm 1777) trong gia đình quý tộc, tại làng Yên Thị, xã Yên Thƣờng, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội). Cha ông là Trạch Trung hầu Phạm Đạt, một võ tƣớng cao cấp đời Cảnh Hƣng.
Khi Tây Sơn tiến ra bắc, Trạch Trung hầu mộ binh chống lại. Nhƣng trƣớc khí thế mạnh nhƣ nƣớc vỡ bờ của quân đội Tây Sơn, “nghĩa binh” của Trạch Trung hầu đã hoàn toàn bại trận. Trạch Trung hầu qua đời khi Phạm Thái 20 tuổi. Gia đình Phạm Thái do việc thất trận của Thạch Trung hầu mà ly tán.
Sự kiện này đã ảnh hƣởng rất nhiều tới tâm lý Phạm Thái. Đồng thời chính những sự kiện này cũng đã quyết định những cách cƣ xử về con đƣờng chính trị cũng nhƣ ảnh hƣởng đến nhân cách của Phạm Thái về sau. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nối chí cha, năm 20 tuổi, Phạm Thái đi ngao du nhiều nơi để tìm và kết giao với ngƣời cùng chí hƣớng. Ông gặp Nguyễn Đoàn rồi cùng nhau chống Tây Sơn, nhƣng không thành công.
Tƣơng truyền Phạm Thái có soạn bài Quân yếu bàn luận thế đánh. Khi Nguyễn Đoàn bị giết thì Phạm Thái phải trốn đi. Bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sƣ, vào tu ở chùa Tiêu Sơn (tức chùa Thiên Tâm nằm trên lƣng chừng núi Tiêu, nay thuộc xã Tƣơng Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu Thiền sƣ. Trong thời gian này, Phạm Thái đã soạn mấy bài văn phả khuyên giáo lấy tiền, gạo sửa chữa chùa.
Đồng thời cùng với trụ trì, ông tiếp tục lên kế sách về việc phù Lê. Đi tu đƣợc mấy năm, thì bạn ông là Thanh Xuyên hầu Trƣơng Đăng Thụ (ngƣời làng Thanh Nê, thuộc huyện Kiến Xƣơng, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Thái Bình), đang làm quan ở Lạng Sơn, cho ngƣời đón ông lên đấy, tính chuyện chống Tây Sơn. Một năm sau, khi ông trở về Kinh Bắc thăm nhà, thì đƣợc tin Trƣơng Đăng Thụ bị đại thần Vũ Văn Dũng đầu độc chết, và đang đƣợc đem về chôn cất ở quê nhà. Phạm Thái liền đến làng Thanh Nê điếu tang bạn.
Ở đây, ông đã giúp nàng Long Cơ (vợ Thanh Xuyên hầu) soạn Văn triệu linh gọi hồn chồng, làm Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu và viết Lời đề nhà Nghĩa lư. Vì yêu nết, trọng tài, Kiến Xƣơng hầu Trƣơng Đăng Quỹ (cha Thanh Xuyên hầu) đã mời Phạm Thái ở lại để làm gia sƣ dạy trẻ. Nhờ vậy, Phạm Thái quen đƣợc em gái bạn là Trƣơng Quỳnh Nhƣ. Họ cùng xƣớng họa thơ văn, rồi thầm yêu nhau.
Cảm phục tài thơ của Phạm Thái, Kiến Xƣơng hầu định gả con cho ông, nhƣng ngƣời mẹ không bằng lòng, vì muốn gả cho một ngƣời khác. Bị ép gả, Quỳnh Nhƣ tự tử, còn Phạm Thái cũng vì quá đau xót, đã rời bỏ nơi đó đi lang bạt. Quãng đời cuối của ông là những trận rƣợu say li bì, là những bài thơ văn bi quan và yếm thế. Năm 1802, chính quyền Tây Sơn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bị diệt vong trƣớc sự phản công của Gia Long.
Giấc mơ phù Lê của Phạm Thái từ đây chính thức không thực hiện đƣợc.