Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ngôn ngữ thơ và từ vựng với sự phát triển ngôn ngữ thơ Việt Nam 1. Thơ và những đặc trưng của thơ Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người.
Chính vì vậy mà có một thời gian rất dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn học. Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật không dễ. Bàn về khái niệm thơ, trong lịch sử lý luận văn học, đã xuất hiện nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về thể loại tiêu biểu này của văn học. Về mặt nguyên lý, thơ và văn xuôi là hai kiểu tổ chức ngôn từ nghệ thuật mà sự khác biệt thuần tuý bên ngoài trước hết ở cơ cấu nhịp điệu.
Nhịp điệu trong thơ được kiến tạo bởi sự phân chia theo những quy tắc mang tính số lượng của các dòng ngôn từ trong tác phẩm thành những ngữ đoạn theo các quy tắc cú pháp với nhau. Từ góc nhìn và tiếp cận này, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong quyển 150 thuật ngữ văn học cho rằng: “Thơ là hình thức nảy sinh đầu tiên của nghệ thuật ngôn từ theo nghĩa đen (tức là không có sự phân giới với thơ ca dân gian). Câu thơ là đơn vị kiến tạo cơ sở của những tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau (trường ca, sử thi, bi kịch, hài kịch, các thể tài trữ tình) ở văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại, ở văn học Châu Âu trung đại, Phục Hưng và chủ nghĩa cổ điển. ở trữ tình hiện đại, câu thơ thực hiện một nhiệm vụ kép: tương ứng với vai trò đã có từ khởi thuỷ, nó đưa một thông báo về một kinh nghiệm sống thực tại của tác giả vào lĩnh vực nghệ thuật, tức là biến một dữ kiện kinh nghiệm thành một sự kiện nghệ thuật; đồng thời câu thơ lại cho phép tái tạo bằng giọng điệu trữ tình một sự thật trực tiếp của thể nghiệm sống cá nhân, một “giọng người” thật sự, riêng biệt – giọng nói của nhà thơ” [2, tr.
e 16 Ở Việt Nam, khái niệm "thơ là gì?" cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau. Lý giải về bản chất của thơ, nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng: "Thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu" [tr. Còn nhà thơ Tố Hữu thì quan niệm: "Thơ là cái nhụy của cuộc sống" [Dẫn lại 28, tr. Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà nghiên cứu Phan Ngọc định nghĩa: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này” [Dẫn lại 28, tr.
Định nghĩa này của Phan Ngọc đã kế thừa được những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua. Đặc biệt, đã gợi ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này. Từ góc độ phong cách ngôn ngữ học, trong Từ điển tu từ phong cách thi pháp học, nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hoà đã khẳng định: “Thuật ngữ thơ được hiểu theo hai nghĩa: (1). Một thể loại lớn của văn học xuất hiện từ rất sớm trước khi có chữ viết, gắn với ca (hát), nhạc, múa, lễ nghi tôn giáo,.
cùng với văn xuôi tự sự và kịch làm thành bộ ba của chủng loại văn học. Tính thẩm mĩ, có khả năng gợi ra vẻ đẹp và gợi nguồn cảm hứng về cái đẹp (nên thơ, rất thơ, chất thơ. Vẻ đẹp của thơ được đặc trưng cho mọi vẻ đẹp. Vì vậy không chỉ chất thơ có trong thơ mà có cả trong truyện, trong âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc.
và cả trong các hiện tượng tự nhiên nữa”. Như vậy, theo nhiều nhà nghiên cứu, thơ là một tổ chức cấu trúc hình thức nghệ thuật sử dụng từ vựng trong ngôn ngữ làm chất liệu cơ bản, và sự chọn lọc hệ thống từ ngữ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính e 17 thẩm mĩ cho người đọc, người nghe. Từ những cách tiếp cận trên cho thấy, thơ là một khái niệm đa nghĩa và được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với cách định nghĩa của nhóm tác giả Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.
thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người. Ở nhiều dân tộc, trong một thời gian tương đối dài, các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ. Vì thế trong lịch sử văn học của nhiều dân tộc từ thế kỉ XVII trở về trước, nói đến thơ ca tức là nói đến văn học”. Thể loại thơ thường được đi kèm với khái niệm có tính chất định lượng là câu để chỉ một câu thơ, vài hàng bài để chỉ một bài thơ.
Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ. Tính cô đọng trong số lượng từ ngữ, tính tượng hình và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác.
Ngôn ngữ thơ và những đặc trưng của ngôn ngữ thơ Nếu ngôn ngữ sinh hoạt hay còn gọi là khẩu ngữ, ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ thân mật gắn liền với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Trên cơ sở xác định những đặc trưng mang tính loại biệt của thể loại thơ, chúng ta có thể xác định được những thuộc tính mang tính đặc trưng của ngôn ngữ thơ. Ngôn ngữ thơ khácvới lời nói thường ở cấu trúc của nó, lời thơ ít nhưng cảm xúc và ý nghĩa rất phong phú, có sức gợi cảm lớn. Muốn vậy nó phải tạo ra một cấu trúc đặc biệt, tức là “láy đi láy lại” một phần hay toàn bộ hình tượng ngôn ngữ (hệ hình), nhịp điệu, âm tiết và sự hài hoà, cân xứng những mặt tương phản (thanh điệu, vần, độ dài âm tiết, nhịp.) tuỳ theo đặc trưng của một ngôn ngữ.
e 18 So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có một số đặc trưng như: Trước hết ngôn ngữ thơ có đặc trưng về nhạc tính: Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính thanh học của ngôn ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ.) không được tổ chức thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết. Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca.
Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt cơ bản. Đó là: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp: - Sự cân đối là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ. Sự hài hoà đó có thể là hình ảnh, là âm thanh, chẳng hạn: Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Cũng có thể là cách sắp xếp tổ chức mà chúng ta dễ dàng nhận thấy ở cặp câu thực, câu luận trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Đối với thơ hiện đại, yêu cầu này không khắt khe.
Tuy vậy, nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ của mình. - Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu. Tố Hữu đã có lần nói đến giá trị ngữ âm của từ "xôn xao" trong câu thơ "Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa" (Mẹ Tơm). Đó đâu chỉ là âm vang của tự nhiên mà là âm vang của tâm hồn.
Cái làm nên âm vang đó chính là âm thanh, âm thanh của từ "xôn xao" đã cùng với nghĩa của nó làm nên điều kỳ diệu ấy. Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cú. Chúng có tác dụng như một phương tiện e 19 kết dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ: Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn Nước non rả rích giọt đàn mưa xuân (Tiếng đàn mưa - Bích Khê). Lối điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc ở đây vừa diễn tả được hình ảnh cơn mưa của đất trời vừa tạo nên một ấn tượng vương vấn không dứt trong lòng người.
Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ. Ngày nay, nhu cầu của thơ có phần đổi khác. một số người có xu hướng bỏ vần để tạo cho câu thơ sự tự do hoá triệt để. Nhưng nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó như sự đối xứng giữa các dòng, các đoạn thơ, tiết tấu, nhịp điệu của câu thơ thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa.
Đặc trưng thứ hai của ngôn ngữ thơ là tính hàm súc: Đây là đặc điểm chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, nhưng do đặc trưng của thể loại mà nó biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ. Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ngôn ngữ thơ lại mang nặng tính "đặc tuyển".