Chương 1 SỰ HIỆN DIỆN CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT QUÁCH TẤN TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI 1. Đôi nét về “Thơ Mới” Năm 1932, được coi là một năm chính thức mở màn của phong trào thơ Mới.Với sự xuất hiện của rất nhiều những cây bút tên tuổi như: Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Vũ Hoàng Chương, Vũ Đình Liên. Nhưng tiêu biểu hơn cả phải kể đến bài thơ Tình già của Phan Khôi. Bài thơ đã xuất hiện trên Phụ nữ tân văn và nó đã tạo nên một làn sóng hưởng ứng mạnh mẽ của lớp thanh niên và gây hoang mang cho lớp Nho học lúc bấy giờ.
Xét về mọi phương diện, bài thơ Tình già không phải là một bài thơ hay. Nhưng trong bối cảnh lúc bấy giờ, nó đã gây nên một biến cố văn học. Lực lượng sáng tác chia thành hai mặt trận: Theo phái Mới có Phan Khôi, Thế Lữ, Lư Trọng Lư, Vũ Đình Liên,. theo phái cũ có Nguyễn Văn Hanh, Thái Phỉ, Tùng Lâm, Hoàng Duy Từ.Tuy nhiên ở giữa hai phái (gọi là phe trung gian), người ta ghi nhận sự hiện diện của thi sĩ Tản Đà.
Sau Tình già, gần như ngay lập tức những bài thơ Mới nối tiếp nhau xuất hiện, trong đó những sáng tác đặc sắc gắn liền với những gương mặt tiêu biểu lần lượt như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…Cùng với nhóm thơ như Xuân thu nhã tập, nhóm Bàn thành tứ hữu…Nhờ phong trào thơ Mới mà diện mạo văn hóa Việt Nam giai đoạn này thật sự khởi sắc, cái tôi cá nhân trữ tình được khẳng định rõ nét, tạo bước nhảy vọt trong quá trình hiện đại hóa văn học như lời khẳng định của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại: “Ở nước ta, một năm có thể kể như ba mươi năm của người”[31]. Lúc này, một số nhà thơ Mới họ chỉ trích thơ cũ, họ chê thơ Đường luật gò bó, khuôn sáo, hình ảnh cảm xúc, thi tứ đều vay mượn. Tiêu biểu là các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nhà thơ Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên…Trước tình thế ấy, phái thơ cũ cũng phản kháng lại kịch liệt và gay gắt. Họ chê những nhà thơ Mới là mù quáng, dốt nát, vì không biết làm thơ Đường luật nên chê bai và không biết trân trọng các thể thơ truyền thống.
Cuộc chiến giữa hai phái không cân đối. Lực lượng của phái mới đông đảo, mạnh mẽ, hăng hái và đặc biệt là trẻ hơn phái cũ nên họ có sức đột phá hơn. Bên cạnh đó các nhà thơ Mới có được sự thuận lợi nhất định là tờ Phong Hóa và đội ngũ các nhà thơ- là những người có năng lực, dày kinh nghiệm cùng kiến thức Tây học. Các nhà thơ Mới đã đi tìm hình thể cho thơ, thể hiện cảm xúc chân thực, đề ra một chuẩn mực mới cho cái Đẹp.
Người được đánh giá cao với những bước đột phá táo bạo và tài hoa lúc đó là Xuân Diệu. Nếu Thế Lữ được xem là người khai phá của phong trào thơ Mới thì Xuân Diệu là người nối tiếp mạch nguồn đó một cách tinh tế và đưa thơ Mới phát triển đạt tới đỉnh cao. Ở thơ Mới, các nhà thơ đã khẳng định mình và tuyên bố quyền sống của mình, ý thức về mình đã dẫn tới ý niệm về kẻ khác. Cảm xúc và tâm trạng mang đậm tính chủ quan, thể hiện cái tôi cá nhân: Tôi là một, là riêng là thứ nhất của Xuân Diệu trong bài Hy-mã-lạp-sơn hay Tôi là thi sĩ của yêu thương của Nguyễn Bính trong bài Một trời quan tải.
Nếu thơ Mới ban đầu là lãng mạn thì về sau lại nghiêng về phía tượng trưng, siêu thực. Cái tôi thi nhân đứng ở vị trí trung tâm, nó làm tăng tính tự giác và hợp quy luật của một trào lưu thơ. Nó hóa thân vào những tư cách mới vừa có bề rộng lẫn bề sâu. Tuy thơ Mới vẫn chưa ôm trùm được hết mọi khía cạnh của cuộc sống cũng như của nghệ thuật nhưng nó đã đánh dấu một bước chuyển lớn của thơ trữ tình Việt Nam từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại với một quan niệm và tư duy nghệ thuật mới, hệ thống phương thức mới khi tái hiện hiện thực cuộc sống.
Trong quá trình giao lưu văn hóa, sự du nhập của thơ ca Pháp vào thơ ca Việt Nam là điều không tránh khỏi. Thơ ca Pháp như một luồng gió mới thổi vào hồn thơ Việt. Thơ Mới đã thoát khỏi sự ràng buộc của thơ cách luật, đổi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 mới về mặt thi pháp và tư duy thơ, tư duy bằng liên tưởng, bằng tưởng tượng, bằng cảm giác, bằng âm thanh…là do ảnh hưởng của tư duy thơ hiện đại (ở đây muốn nhấn mạnh là thơ Pháp). Các nhà thơ Pháp như Baudelaire (1821 - 1867), Verlaine (1844 - 1896), Lamartine (1790 - 1869)…đều có ảnh hưởng sâu đậm đến thơ Mới của nước ta.
Các tác giả như Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Đoàn Phú Tứ, Bích Khê… có thể coi là tiêu biểu nhất với những sáng tác thơ mang tính tượng trưng và siêu thực. Nếu ban đầu thơ Mới chịu ảnh hưởng sâu đậm của thơ Pháp thì về sau thơ Mới có sự kết hợp nhịp nhàng giữa Đông và Tây, đó là sự tương hợp âm thanh, màu sắc con người và vũ trụ của Đường thi với thơ Pháp trên cơ sở ngôn ngữ và truyền thống văn hóa Việt. Thơ Mới đã thay đổi thơ trữ tình tiếng Việt từ câu thơ điệu ngâm sang câu thơ điệu nói. Thơ Mới có thể giải bày mọi bí mật của cõi lòng riêng tư: từ nỗi buồn, sự cô đơn, những khát khao, sự chán trường, sự cô đơn hưu quạnh…Đặc biệt khi nói tới tình cảm riêng tư của mình thì thơ Mới thể hiện những đề tài mới, lấy cái tôi làm trung tâm, bộc lộ cái tôi hết sức đa dạng, hấp dẫn và phức tạp, một cái tôi cá nhân (I’individu) với tư cách là đối tượng nhận thức và phản ảnh của thi ca trong quá trình phát triển của văn học.
Các nhà thơ Mới đã gạt bỏ mọi ràng buộc ước lệ, luân lý… của một thời kỳ để trở về với con người mình, tìm thấy chính mình, họ nói bằng những rung cảm trực tiếp nhất và mãnh liệt nhất. Trong việc trở về cái tôi của mình, thơ Mới đã gặp gỡ, hòa đồng vào văn hóa dân tộc và nhân loại. Có thể nói, thơ Mới là một bước phát triển đạt đến sự hiện đại cả về mặt biểu hiện cũng như cảm hứng thi ca, với nhiều tác phẩm đạt đến trình độ kiệt tác và đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần, mở rộng cảm xúc và làm cho cảm quan của con người nhạy bén hơn, tâm hồn tinh tế và hướng tới cái đẹp hoàn hảo hơn. Nếu ban đầu thơ Mới chịu ảnh hưởng thơ ca Pháp thì về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 sau nó là sự tổng hợp của thơ lãng mạn và thơ tượng trưng Pháp với thơ ca Trung Quốc, chủ yếu là Đường thi và thơ ca truyền thống của dân tộc.
Nhà thơ Quách Tấn - cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 1. Cuộc đời Quách Tấn tự là Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên quê ở Thôn Trường Định, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định hiện nay). Ông thường trú tại số nhà 12, đường Bến Chợ, Nha Trang. Thân phụ là Quách Phương Xuân, thông tỏ chữ Pháp.
Quách Tấn sinh năm 1910 mất năm 1992. Ông thuộc vào một trong số những tác giả có tuổi thọ cao nhất làng văn. Sinh thời, ông mang nhiều bút danh khác nhau như Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão Giữ Vườn. Bình sinh Quach Tấn rất yêu thích văn thơ.
Thân mẫu ông là Trần Thị Hào, tinh thông chữ Hán, thuộc nhiều thơ Nôm và viết chữ Hán rất đẹp. Chính truyền thống gia đình đã có những tác động, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời, tính cách đặc biệt là việc lựa chọn đi theo con thơ với những bài thơ Đường luật của nhà thơ Quách Tấn. Năm 1929, ông lập gia đình. Vợ tên là Nguyễn Thị Nhiếp - hiệu Thanh Tâm, người ở thôn Phú Phong, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.
Vợ chồng ông sinh được 12 người con, sống đến lớn được 8 người, hiện còn 6 (2 nam, 4 nữ). Lúc nhỏ Quách Tấn học chữ Hán, đến năm 12 tuổi bắt đầu học chữ Quốc ngữ và Pháp ngữ tại trường Pháp Việt Quy Nhơn. Năm 20 tuổi (1930), ông được bổ nhiệm làm Phán sự Tòa sứ tại tòa khâm sứ Huế, rồi chuyển lên tòa sứ Đồng Nai Thượng ở Đà Lạt. Năm 25 tuổi (1935) ông lại chuyển về tòa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 sứ Nha Trang.
Năm 1949, ở tuổi gần 40, Quách Tấn mở trường Trung học tư thục Mai Xuân Thưởng tại thôn An Chánh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Năm 1951 ông được điều động dạy trường Trung học An Nhơn, rồi trường Trung học Bình Khê (1951- 1953). Năm 1954 ông hồi cư về Nha Trang được tái bổ vào ngạch thư ký hành chính. Từ đó đến năm 1965, ông đã làm việc tại tòa hành chính Quy Nhơn, Sở Du lịch Huế, Ty Kiến thiết Nha Trang, Tòa hành chính Nha Trang.
Năm 1965, ông về nghỉ hưu và tiếp tục viết văn làm thơ. Năm 1987, một việc đau đớn đã xảy đến, Quách Tấn bị mù cả hai mắt. Tuy nhiên ông vẫn nỗ lực dùng trí nhớ của mình đọc cho con cháu ghi chép lại những chuyện xưa, tích cổ, những tài liệu cũ rất hiếm người để lưu lại cho thế hệ sau. Từ đấy cho đến khi từ giã cõi đời, tuy tuổi cao và mắt mù, nhưng ông vẫn ở tại số nhà 12, đường Bến Chợ, phường Xương Huân, thành phố Nha Trang.
Ông đã chút hơi thở cuối cùng vào hồi 7 giờ 10 phút ngày 28 tháng 11 năm 1992, hưởng dương 82 tuổi. Hiện nay, ngôi nhà vẫn còn con cháu của Quách Tấn ở và đó cũng là địa điểm thăm viếng của nhiều người yêu thích thơ văn. Sự nghiệp sáng tác Quách Tấn làm thơ từ năm 1925 lúc học Đệ nhất niên (ngang lớp 6 hiện nay) ở trường Trung học Quy Nhơn (Collège de Quy Nhon). Thầy dạy là giáo sư Hà Văn Bình, sách học là cuốn Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm.
Lúc ra trường (1929), Quách Tấn đã thành thạo các nguyên tắc về các thể thơ Đường luật và các thể thơ Việt Nam. Đến năm 1932, nhờ sự chỉ dẫn nhiệt tâm của Tản Đà và Phan Sào Nam ông mới chính thức bước vào làng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.