Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Ngữ văn với đề tài "Đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư" do sinh viên Phạm Trúc Mai thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hà Thanh Vân tại Trường Đại học Thủ Dầu Một (bảo vệ tháng 5/2015). Nghiên cứu thuộc loại hình nghiên cứu lý luận văn học kết hợp phân tích tác phẩm văn học theo hướng thi pháp học đại cương.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Nguyễn Ngọc Tư được định vị là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam đương đại nói chung và văn học Nam Bộ nói riêng. Kế thừa truyền thống văn học Nam Bộ từ các tác giả như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Lê Giang, Nguyễn Ngọc Tư sớm định hình một phong cách sáng tác với giọng văn riêng biệt mang đậm hơi thở vùng đất phù sa sông nước. Sáng tác truyện ngắn của tác giả đã xác lập vị trí trên văn đàn qua các giải thưởng văn học chính thức:
- Giải Nhất Cuộc vận động sáng tác Văn học Tuổi 20 lần II (năm 2000) với tác phẩm Ngọn đèn không tắt.
- Giải B Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2001) với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt.
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2006) và Giải thưởng Văn học ASEAN (năm 2008) với tập truyện Cánh đồng bất tận.
Vào thời điểm năm 2015, số lượng tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đã lên tới gần 100 truyện ngắn được xuất bản. Mặc dù có nhiều bài báo, tiểu luận phê bình của các học giả như Trần Hữu Dũng, Huỳnh Công Tín, Bùi Công Thuấn, Nguyễn Trọng Bình, Trần Phỏng Diều, Thụy Khuê, song phần lớn các công trình phê bình thi pháp học chỉ mới tiếp cận đơn lẻ ở một hoặc hai tập truyện tiêu biểu (Ngọn đèn không tắt, Cánh đồng bất tận). Hướng tiếp cận thi pháp học có hệ thống trên diện rộng các tập truyện ngắn vẫn còn khoảng trống, đặc biệt trong bối cảnh tư liệu nghiên cứu văn học Việt Nam sau năm 1975 còn nhiều vấn đề cần tiếp tục làm rõ.
Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận xác định ba mục tiêu cụ thể:
- Đem đến cái nhìn bao quát, tổng hợp về các sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, chỉ ra những đóng góp nghệ thuật và nét riêng tạo nên phong cách của tác giả thông qua hệ thống đặc điểm thi pháp.
- Thiết lập một dấu nối tiếp bước những nhận định, đánh giá trước đó với cách tiếp cận hệ thống, đóng vai trò là một trong những điểm khởi đầu phục vụ cho các công trình nghiên cứu sâu hơn về sự nghiệp văn học của tác giả.
- Góp phần bổ sung tư liệu nghiên cứu về diện mạo văn học Việt Nam giai đoạn sau năm 1975, đưa các tác phẩm của nhà văn đến gần hơn với độc giả và giới nghiên cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, khóa luận triển khai bốn nhiệm vụ:
- Trình bày tổng quan về hệ thống lý luận thi pháp học, tiến trình phát triển và vai trò của thi pháp học trong nghiên cứu, phê bình văn học; phác thảo cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
- Khảo sát và phân tích thi pháp không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
- Khảo sát và phân loại thế giới nhân vật (theo nghề nghiệp, theo tình huống truyện) cùng các phương thức nghệ thuật xây dựng nhân vật (diện mạo, ngôn ngữ, điểm nhìn trần thuật).
- Phân tích thi pháp ngôn từ mang sắc thái Nam Bộ và các kiểu giọng điệu trần thuật đặc trưng; từ đó rút ra kết luận chung về giá trị thẩm mỹ và đóng góp nghệ thuật của tác giả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm thi pháp thể hiện trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
- Phạm vi ngữ liệu: Tập trung khảo sát 5 tập truyện ngắn do Nhà xuất bản Trẻ phát hành:
- Ngọn đèn không tắt (Nxb Trẻ, 2012).
- Gió lẻ và chín câu chuyện khác (Nxb Trẻ, 2012).
- Cánh đồng bất tận (Nxb Trẻ, 2012).
- Giao thừa (Nxb Trẻ, 2014).
- Đảo (Nxb Trẻ, 2014).
- Phạm vi thời gian và không gian: Các truyện ngắn được sáng tác và xuất bản tính đến mốc thời gian hoàn thành khóa luận (tháng 5/2015), lấy bối cảnh chính là đời sống văn hóa, con người vùng đồng bằng sông Cửu Long và không gian Nam Bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Nghiên cứu lấy lý thuyết thi pháp học đại cương làm nền tảng. Khóa luận tổng thuật hai giai đoạn phát triển chính của thi pháp học:
- Thi pháp học cổ điển (truyền thống): Phương Tây bắt đầu từ công trình Poetica (Nghệ thuật thi ca) của Aristote (384–322 TCN); phương Đông ghi nhận tác phẩm Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (465–532), cùng các quan điểm thi thoại của Tạ Trăn, Diệp Nhiếp, Kim Thánh Thán, Mao Tôn Cương.
- Thi pháp học hiện đại thế kỷ XX: Tiếp thu thành tựu từ các trường phái: Thi pháp học lịch sử (A. Veselovsky, M. Bakhtin); Trường phái hình thức Nga (R. Jakobson, V. Shklovsky); Trường phái Phê bình mới Anh – Mỹ (T.S. Eliot); Thi pháp học cấu trúc và ký hiệu học (F. de Saussure, C. Lévi-Strauss, Roland Barthes); Thi pháp học hiện tượng học (Edmund Husserl, J.P. Richard, R. Ingarden).
- Thi pháp học tại Việt Nam: Từ dấu mốc Thi pháp nhập môn của Thế Tải và Trương Minh Ký (cuối thế kỷ XIX), đến các công trình nền tảng của Phan Ngọc, Hoàng Trinh, Đỗ Đức Hiểu và đặc biệt là hệ thống lý thuyết của GS. Trần Đình Sử (Một số vấn đề thi pháp hiện đại, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam).
Các định nghĩa cốt lõi được tác giả trích dẫn làm điểm tựa phân tích:
- Quan niệm của Lê Ngọc Trà (1990): "Thi pháp là hệ thống các phương tiện, cách thức thể hiện và tổ chức ý thức nghệ thuật trong sáng tạo văn chương".
- Định nghĩa của GS. Nguyễn Văn Hạnh: Khẳng định thi pháp là hệ thống những nguyên tắc chỉ đạo quá trình sáng tác và xây dựng tác phẩm văn học, bao gồm các nguyên tắc nhận thức và thể hiện cuộc sống theo quy luật của cái đẹp.
- Định nghĩa của GS. Trần Đình Sử: Xem thi pháp là hệ thống các nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật cụ thể tạo thành đặc sắc nghệ thuật của một tác phẩm, tác giả hay thể loại.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận phối hợp 6 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
| Tên phương pháp |
Mục đích và cách thức triển khai trong văn bản |
| Phương pháp thi pháp học đại cương |
Đóng vai trò chủ đạo, định hướng việc bóc tách tác phẩm văn học theo các chỉnh thể nghệ thuật: không gian, thời gian, nhân vật, ngôn từ, giọng điệu. |
| Phương pháp tham chiếu |
Tham chiếu trực tiếp tư tưởng, tâm hồn, tính cách và quan niệm nghề văn của chính Nguyễn Ngọc Tư để soi sáng các cấu trúc nghệ thuật. |
| Phương pháp thống kê |
Khảo sát tần suất xuất hiện của các dạng không gian, mô hình nhân vật, lớp từ ngữ địa phương và phương thức trần thuật trong 5 tập truyện. |
| Phương pháp phân tích - tổng hợp |
Đi sâu phân tích từng truyện ngắn cụ thể, kết hợp tổng hợp các dữ liệu nghiên cứu để khái quát hóa phong cách nghệ thuật "đặc sản Nam Bộ". |
| Phương pháp lịch sử |
Đặt tác phẩm vào bối cảnh văn hóa, chuyển biến kinh tế - xã hội vùng đất Nam Bộ trong thời kỳ đổi mới và đô thị hóa. |
| Phương pháp so sánh đồng đại |
Đối sánh sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư với các cây bút cùng thời và các tác giả tiền bối Nam Bộ nhằm làm rõ cá tính sáng tạo độc lập. |
Nguồn dữ liệu khảo cứu
Nguồn tư liệu được tác giả phân lập thành hai nhóm:
- Nguồn ngữ liệu cấp 1: 5 tập truyện ngắn xuất bản chính thức của Nguyễn Ngọc Tư do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành từ năm 2012 đến 2014.
- Nguồn tài liệu nghiên cứu cấp 2: Các chuyên luận, luận văn thạc sĩ đi trước (luận văn của Nguyễn Thành Ngọc Bảo tại ĐH Sư phạm TP.HCM năm 2008, Dương Thị Kim Thoa năm 2008, Vũ Thị Hải Yến); các khóa luận tốt nghiệp (Vũ Thị Thu Hà năm 2006, Lương Thúy Hà năm 2009 tại ĐH KHXH&NV Hà Nội); các bài phê bình trên tạp chí văn học và nguồn lưu trữ học thuật Viet-Studies do GS. Trần Hữu Dũng tập hợp.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ THI PHÁP HỌC
Chương này phác họa toàn cảnh chân dung tác giả cùng nền tảng lý thuyết bộ môn. Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống cách mạng. Hoàn cảnh gia đình buộc tác giả nghỉ học từ năm lớp 10 để chăm sóc ông ngoại bị bệnh và mưu sinh. Tác giả sau đó làm nhân viên văn thư, biên tập viên trang thiếu nhi của tạp chí Bán đảo Cà Mau thuộc Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cà Mau. Truyện ngắn đầu tay Đổi thay đăng trên báo Cà Mau là dấu mốc khởi đầu, trước khi tác phẩm Ngọn đèn không tắt đoạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác Văn học Tuổi 20 năm 2000.
Văn bản ghi nhận các dấu mốc chuyển thể điện ảnh, sân khấu từ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư:
- Truyện ngắn Cải ơi được đạo diễn Phương Điền chuyển thể thành phim điện ảnh.
- Tập truyện Cánh đồng bất tận được đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình chuyển thể thành phim nhựa (khởi chiếu ngày 22/10/2010), đạt doanh thu 9,2 tỷ đồng sau chưa đầy hai tuần và đoạt các giải thưởng tại Cánh diều 2010 (Cánh diều Bạc cho phim truyện nhựa, Cánh diều Vàng cho nhạc sĩ, nữ diễn viên chính, nam diễn viên phụ và giải báo chí bình chọn; giải Mai Vàng lần thứ 16 cho diễn viên Ninh Dương Lan Ngọc).
- Truyện ngắn Đời như ý được dàn dựng thành kịch và đạo diễn Victor Vương (Vương Quang Hùng) chuyển thể thành phim điện ảnh phát hành ngày 28/11/2014.
Về mặt lý luận, chương 1 trình bày chi tiết khái niệm thi pháp, phân định ranh giới giữa nghiên cứu mẹo luật hình thức cổ điển với các trường phái thi pháp học hiện đại phương Tây và sự du nhập, định hình của bộ môn tại Việt Nam từ thập niên 1980 đến nay.
CHƯƠNG 2: THI PHÁP KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ
Chương 2 phân tích không gian và thời gian nghệ thuật như những hình tượng thẩm mỹ chứa đựng quan niệm nghệ thuật của nhà văn:
- Không gian sông nước: Là trục không gian chủ đạo, gắn liền với các chi tiết tự nhiên đặc thù (bến sông, dừa nước, cây ô rô, ráng, lức dại, vú sữa, kinh ngạch). Không gian sông nước là nơi bảo lưu ký ức gia đình, nuôi dưỡng nếp sống tình nghĩa nhưng cũng là không gian của sự hiu quạnh, trì trệ trước nhịp sống hiện đại (tiêu biểu như không gian buồn bã xóm Thổ Sầu, cù lao Mút Cà Tha trong truyện Nhớ sông).
- Không gian cánh đồng: Gắn với đời sống di động của người chăn vịt chạy đồng qua các địa danh (Rạch Giồng, xóm Lung, Rạch Mũi, Nhà Phấn Ngọn, Cái Bát). Cánh đồng phản ánh hai mặt: sự trù phú bao bọc con người và sự khô cằn, chết chóc do thiên tai, ngập mặn cùng sức ép của quá trình đô thị hóa (lúa chết khô, thiếu nước ngọt sinh hoạt, đất đai thu hẹp, phát sinh tệ nạn xã hội và nỗi tha hóa con người như trong Cánh đồng bất tận).
- Không gian sân khấu: Thiết lập ranh giới đối lập giữa ánh đèn rực rỡ của sàn diễn cải lương và hiện thực đời sống nghèo túng, bạc bẽo của kiếp cầm ca (số phận thương tật đứt lìa sân khấu của nhân vật Sáu Tâm, cô đào Điệp).
- Không gian con đường: Biểu tượng cho kiếp sống tha hương mưu sinh (gia đình chú Tư Đời bán vé số trong Đời như ý), con đường hoài niệm và tự vấn trong Đường về Xẻo Đắng, hoặc không gian chia cắt tâm lý, sự lãng quên nguồn cội giữa thế hệ cha và con.
- Các kiểu không gian khác: Nơi ở tạm bợ, chật hẹp, mục nát phản ánh sự chai lì, dồn nén cảm xúc của những thân phận dưới đáy xã hội.
- Thời gian nghệ thuật: Khảo sát sự đan xen giữa thời gian ghi nhận (thời gian tự nhiên, lịch biểu, mùa vụ đồng ruộng) và thời gian tâm lý (dòng hồi ức, những khoảng ngưng trệ nội tâm của nhân vật).
CHƯƠNG 3: THI PHÁP NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ
Theo kết cấu đề cương khóa luận, thế giới nhân vật được khảo sát qua hai trục phân loại và hệ thống thủ pháp xây dựng:
- Kiểu dạng nhân vật theo tính chất nghề nghiệp:
- Nhân vật làm ruộng, làm vườn gắn bó với đất đai.
- Nhân vật sống kiếp thương hồ trôi dạt trên sông nước.
- Nhân vật làm nghề xướng ca (nghệ sĩ cải lương nghèo).
- Nhân vật chăn vịt chạy đồng lang bạt theo mùa lúa.
- Nhân vật loài vật (gắn bó với đời sống con người).
- Nhân vật trí thức và nhân vật làm các nghề nghiệp lao động khác.
- Kiểu dạng nhân vật theo cách tạo tình huống truyện:
- Nhân vật bị hiểu lầm (như ông già Năm Nhỏ tìm con trong Cải ơi).
- Nhân vật bị phụ tình, chịu cảnh duyên tình dở dang.
- Nhân vật mang nỗi niềm hoài niệm, tình cảm thầm lặng.
- Nhân vật sống hy sinh, quên mình vì người khác ("thấy phải thì làm").
- Nhân vật bị tha hóa trước biến cố cay nghiệt của hoàn cảnh (nhân vật Út Vũ trong Cánh đồng bất tận).
- Nhân vật xuất thân từ gia đình rạn nứt, đổ vỡ.
- Nhân vật khao khát được xã hội và người thân nhìn nhận giá trị bản thân.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Khắc họa diện mạo bên ngoài qua khuôn mặt, ánh mắt u uẩn và dáng vẻ phong sương dãi dầu.
- Xây dựng ngôn ngữ nhân vật qua hình thức đối thoại đậm phương ngữ Nam Bộ và độc thoại nội tâm sâu kín.
- Tổ chức điểm nhìn trần thuật đa dạng, luân chuyển linh hoạt giữa người kể chuyện hàm ẩn và ngôi thứ nhất.
CHƯƠNG 4: THI PHÁP NGÔN TỪ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ
Chương cuối cùng tập trung vào các đặc trưng hình thức thể hiện phong cách văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư:
- Thi pháp ngôn từ: Khai thác triệt để hệ thống từ ngữ địa phương Nam Bộ (từ ngữ sinh hoạt đời thường, phương ngữ chỉ địa hình sông nước miền Tây). Lối diễn đạt giản dị, mộc mạc, vận dụng lời ăn tiếng nói tự nhiên của người nông dân nhưng được chưng cất thành ngôn ngữ văn học tinh tế.
- Thi pháp giọng điệu: Xác định các sắc thái giọng điệu đan xen trong văn bản nghệ thuật:
- Giọng thủ thỉ, tâm tình, gần gũi, xóa mờ khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật/người đọc.
- Giọng hài hước, dí dỏm, "tưng tửng" đặc trưng của tinh thần lạc quan Nam Bộ ngay giữa hoàn cảnh éo le.
- Giọng triết lý, suy tư trầm lắng, thể hiện cái nhìn buồn bã, điềm nhiên nhưng không bi lụy trước số phận con người.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận đã hệ thống hóa và phân lập được các mô hình không gian nghệ thuật chủ chốt trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (sông nước, cánh đồng, sân khấu, con đường, nơi ở tạm bợ), chứng minh không gian không chỉ là phông nền địa lý mà là một chiều kích tâm lý, phản ánh sâu sắc quá trình biến đổi xã hội và đời sống nội tâm nhân vật.
- Xác lập được bức tranh toàn cảnh về thế giới nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư thông qua hai bảng phân loại (nghề nghiệp mưu sinh và tình huống số phận). Đa phần nhân vật là những con người bình dân, hướng thiện, sống theo triết lý "thấy phải thì làm" và "thành thật với con tim", bên cạnh sự xuất hiện của những nhân vật tha hóa mang tính chấn thương như Út Vũ.
- Nhận diện các phương thức nghệ thuật xây dựng hình tượng: kết hợp miêu tả chi tiết diện mạo ngoại hình với dòng độc thoại nội tâm; vận dụng xuất sắc ngôn từ Nam Bộ tự nhiên; hòa trộn ba giọng điệu trần thuật căn bản (thủ thỉ tâm tình, hóm hỉnh tưng tửng, chiêm nghiệm triết lý).
- Cung cấp dữ liệu tư liệu hóa chuẩn xác về các tác phẩm chuyển thể, giải thưởng văn học và doanh thu công chiếu thực tế của các tác phẩm phái sinh từ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn
- Về lý luận và lịch sử văn học: Khóa luận góp phần mở rộng hướng tiếp cận thi pháp học đối với văn xuôi đương đại sau năm 1975, bổ sung một nghiên cứu tương đối toàn diện về một tác giả trẻ đang trong giai đoạn phát triển phong cách sáng tác.
- So với các nghiên cứu trước đó: Các công trình trước đây thường chỉ tập trung vào một tập truyện riêng lẻ (Cánh đồng bất tận hoặc Ngọn đèn không tắt), hoặc chỉ khai thác đơn thuần dưới góc độ phản ánh văn hóa - xã hội. Khóa luận này tiếp cận có hệ thống qua 5 tập truyện ngắn liên tục từ 2012 đến 2014, kết hợp đồng bộ các bình diện thi pháp: không gian - thời gian, nhân vật, ngôn từ và giọng điệu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Khóa luận giới hạn ngữ liệu khảo sát chính ở 5 tập truyện ngắn xuất bản bởi NXB Trẻ trong các năm 2012 và 2014. Các truyện ngắn in rải rác trên báo chí, trang cá nhân hoặc các truyện chưa tập hợp thành sách chưa được bao quát triệt để.
- Nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào thể loại truyện ngắn, chưa mở rộng phân tích so sánh liên thể loại với mảng tản văn, tạp văn, thơ và tiểu thuyết đầu tay Sông (xuất bản năm 2012) của cùng tác giả.
- Thời gian nghiên cứu bị giới hạn trong khung thời gian làm khóa luận cử nhân (6 tháng), dẫn đến việc khảo sát chi tiết thi pháp thời gian nghệ thuật ở chương 2 chưa đạt dung lượng sâu rộng tương đương phần không gian nghệ thuật.
Hướng nghiên cứu mở rộng
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thể loại khác của Nguyễn Ngọc Tư như tiểu thuyết (Sông), tản văn và tạp văn để đánh giá toàn diện sự chuyển dịch thi pháp tác giả.
- Đi sâu nghiên cứu thi pháp thời gian nghệ thuật và điểm nhìn trần thuật dưới góc độ tự sự học hiện đại (narratology).
- Tiếp tục theo dõi, khảo sát các sáng tác mới của tác giả trong các giai đoạn sau 2015 nhằm đánh giá sự biến chuyển phong cách nghệ thuật từ lối viết bản năng sang sáng tác có ý thức hiện đại chiều sâu.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng và mục đích nghiên cứu sau:
- Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Ngữ văn, Sư phạm Văn, Văn hóa học: Cung cấp một khung cấu trúc mẫu mực về việc ứng dụng phương pháp thi pháp học đại cương vào việc phân tích một tác giả văn xuôi đương đại cụ thể.
- Đối với người nghiên cứu văn học Nam Bộ và văn học sau 1975: Khóa luận là nguồn tài liệu tổng thuật hữu ích về hệ thống phê bình tiếp nhận Nguyễn Ngọc Tư từ đầu thập niên 2000 đến năm 2015, tổng hợp các ý kiến đánh giá từ các nhà nghiên cứu tên tuổi.
- Các nội dung đáng tham khảo chuyên sâu trong văn bản:
- Hệ thống phân loại không gian nghệ thuật (đặc biệt là không gian sông nước và không gian cánh đồng trước tác động đô thị hóa).
- Khung phân loại nhân vật theo nghề nghiệp và tình huống truyện đặc thù Nam Bộ.
- Sự phân tích các cung bậc giọng điệu trần thuật và lớp từ vựng địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng ngữ liệu từ những tập truyện ngắn cụ thể nào của Nguyễn Ngọc Tư?
Tác giả khảo sát trực tiếp 5 tập truyện ngắn do Nhà xuất bản Trẻ phát hành, bao gồm: Ngọn đèn không tắt (2012), Gió lẻ và chín câu chuyện khác (2012), Cánh đồng bất tận (2012), Giao thừa (2014) và Đảo (2014).
2. Tác giả khóa luận phân chia không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thành những kiểu dạng nào?
Trong Chương 2, không gian nghệ thuật được phân tích thành 5 nhóm: không gian sông nước (gắn với ghe thuyền, kinh rạch, văn hóa đờn ca tài tử); không gian cánh đồng (nghề chăn vịt chạy đồng và hệ lụy hạn mặn, đô thị hóa); không gian sân khấu (sự đối lập giữa vai diễn và kiếp sống nghèo khó của nghệ sĩ); không gian con đường (hành trình mưu sinh, nỗi hoài niệm và sự xa cách giữa các thế hệ); và các kiểu không gian nơi ở tạm bợ, nghèo nàn khác.
3. Tác giả khóa luận tiếp cận thế giới nhân vật theo những hướng phân loại nào?
Trong Chương 3, thế giới nhân vật được khảo sát theo hai hướng chính:
- Theo tính chất nghề nghiệp: Người làm ruộng/vườn, kiếp thương hồ, nghề xướng ca, người chăn vịt chạy đồng, nhân vật loài vật, nhân vật trí thức và các nghề nghiệp lao động khác.
- Theo cách tạo tình huống truyện: Nhân vật bị hiểu lầm, bị phụ tình/duyên lỡ, mang nỗi niềm thầm lặng/hoài niệm, sống vì người khác, nhân vật bị tha hóa, nhân vật sinh ra từ gia đình đổ vỡ, và nhân vật khao khát được nhìn nhận.
4. Tác phẩm "Cánh đồng bất tận" và các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được văn bản ghi nhận thành công ở những lĩnh vực chuyển thể nào?
Khóa luận ghi nhận truyện ngắn Cải ơi được đạo diễn Phương Điền dựng thành phim; truyện ngắn Đời như ý được dựng thành kịch và phim điện ảnh (đạo diễn Victor Vương, phát hành tháng 11/2014); truyện ngắn Cánh đồng bất tận được đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình chuyển thể thành phim điện ảnh (2010), đạt doanh thu 9,2 tỷ đồng sau chưa đầy hai tuần công chiếu và đạt nhiều giải thưởng tại Cánh diều 2010 cùng giải Mai Vàng lần thứ 16 cho diễn viên chính Ninh Dương Lan Ngọc.
5. Những phương pháp nghiên cứu chính nào được tác giả vận dụng trong khóa luận?
Tác giả sử dụng 6 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: phương pháp thi pháp học đại cương (chủ đạo), phương pháp tham chiếu tư tưởng tác giả, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh đồng đại với các nhà văn cùng thời.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Trúc Mai là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, vận dụng bài bản lý thuyết thi pháp học đại cương để giải mã thế giới truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Thông qua việc phân tích toàn diện các bình diện không gian - thời gian, thế giới nhân vật, hệ thống ngôn từ và giọng điệu trên ngữ liệu 5 tập truyện ngắn xuất bản, đề tài đã làm sáng tỏ những nét đặc sắc thẩm mỹ tạo nên dấu ấn văn phong Nam Bộ độc đáo của tác giả. Công trình không chỉ cung cấp một hệ thống tư liệu tiếp nhận văn học chuẩn xác mà còn đóng góp thiết thực vào việc nghiên cứu diện mạo văn học Việt Nam đương đại giai đoạn sau năm 1975.