chương 1 giới thiệu về lý thuyết ma, ẩn dụ và lịch sử, bốn chương tiếp theo phân tích Người yêu dấu, chương tiếp theo phân tích về ma và ẩn dụ trong Ngày mười tám tháng sương mù, ba chương còn lại dành cho Trăm năm cô đơn, chỉ có phần kết luận đề cập đến các yếu tố giao thoa giữa hai tác phẩm. Những phân tích về sự kết hợp giữa tưởng tượng và hiện thực trong tác phẩm là nguồn tư liệu quý báu cho chúng tôi trong quá trình phân tích nhân vật, không gian và thời gian trong tiểu thuyết này. Đồng thời, những vấn đề được đặt ra giữa tác phẩm của G. Marquez và Toni Morrison cũng là sợi dây liên hệ tốt, giúp cho lăng kính so sánh của chúng tôi trong khi phân tích tiểu thuyết G.
Marquez sâu sắc và đa chiều hơn. Ở Việt Nam, Nguyễn Trung Đức là người có công đầu trong việc giới thiệu G. Marquez với độc giả nước ta và khởi đầu bằng bản dịch Trăm năm cô đơn. Bài 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viết “Hiệu quả nghệ thuật của không - thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.
Marquez” đăng trên Tạp chí văn học, số 1 năm 1995 của Nguyễn Trung Đức đã tổng kết những nét cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, tập trung vào thời gian vòng tròn, khép kín, đồng hiện và không gian Mỹ Latinh thu nhỏ trong tác phẩm. Trăm năm cô đơn đến với độc giả Việt Nam vào năm 1984, hai năm sau khi tác phẩm này được trao giải Nobel Văn học. Hai năm sau khi cuốn tiểu thuyết này được dịch cũng là thời kỳ đổi mới tại Việt Nam nên cuốn sách có những điều kiện nhất định để được tiếp nhận hơn nhưng cũng phải trải qua không ít chông gai. Quá trình tiếp nhận G.
Marquez ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do sự khác lạ hoàn toàn trong phong cách của nhà văn với văn chương nước ta thời kỳ đó (cách mô tả hiện thực chất chứa những yếu tố phi lý, tính dục, lạ hóa ngôn ngữ…). Bài “Cô đơn nghĩa là sự tiêu diệt” của Lê Nguyên Cẩn đăng trên Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 1, năm 2000 đề cập đến những yếu tố kỹ thuật độc đáo thể hiện cái cô đơn (như: không gian, thời gian, biểu tượng…). Tác giả cũng chỉ ra những đặc điểm khác về nghệ thuật (như: đột biến nhiều tầng đặt vào không gian đa tuyến, cốt truyện hai lần trùng lặp…). Đặc biệt, bài viết phân tích chi tiết ý nghĩa của cái cô đơn trong tác phẩm.
Tiếp theo, sau Trăm năm cô đơn, Tình yêu thời thổ tả là tác phẩm được nghiên cứu nhiều,tập trung chủ yếu vào ba nội dung chính: chủ đề tình yêu (cấu trúc diễn ngôn, ý nghĩa của tình yêu), bệnh thổ tả (mã thẩm mỹ của bệnh thổ tả) và vai trò kép của G. Ở nội dung thứ ba, trong các tài liệu chúng tôi có được, chỉ có một bài viết duy nhất: Medicine, G. Marquez and Love in the time of cholera (Y học, G. Marquez và Tình yêu thời thổ tả) của Luis H.
Bài viết này đã phân tích hình ảnh bác sĩ Urbino để chứng minh mối liên hệ giữa y học và văn học trong tác phẩm này. Aykutc viết bài Lovesickness: “Love in the time of cholera” by G. Marquez (Tìm hiểu về tình yêu cô đơn trong Tình yêu thời thổ tả của G. Qua phân tích mối tình của hai nhân vật chính, Aykutc chỉ ra những ẩn ý mà nhà văn gửi gắm.
Phan Tuấn Anh khi tìm hiểu về Tình yêu thời thổ tả và chỉ ra bốn diễn ngôn tình yêu trong bài Tình yêu thời thổ tả: Nghệ thuật xây dựng diễn ngôn tình yêu trong tương quan giữa văn bản Tình yêu thời thổ tả và tiểu sử tự truyện của G. Marquez” 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đăng trên Tạp chí Nhà văn, 9/2011. Tác giả cũng đã nghiên cứu và chỉ ra mã thẩm mỹ của tiểu thuyết này là tình yêu gắn với bệnh thổ tả, được thể hiện qua ngôn ngữ giễu nhại của nhà văn trong bài “Mã thẩm mỹ và mã văn hóa lịch sử của hình tượng căn bệnh thổ tả trong Tình yêu thời thổ tả của G. Marquez” đăng trên Tạp chí Nhà văn, số 1/2013.
Từ việc phân tích các diễn ngôn truyện kể, Phan Tuấn Anh chỉ ra cấu trúc của diễn ngôn tình yêu, cấu trúc và nội dung các giai đoạn trần thuật cũng như giá trị thẩm mỹ của các diễn ngôn truyện kể trong bài “Cấu trúc diễn ngôn truyện kể trong Tình yêu thời thổ tả của G. Marquez” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số tháng 4/2012. Những phát hiện này đã khắc phục được những hạn chế trong bài viết của Luis H. Toledo Peryra nhưng lại chưa tổng hợp được thành vai trò kép của nhà văn.
Tất nhiên, mỗi bài viết xuất phát từ một khía cạnh nghệ thuật khác nhau và đi sâu vào một luận điểm được đặt ra từ tiêu đề bài viết. Đây là những góc nhìn đa chiều, cũng là tư liệu hữu ích trong quá trình tìm hiểu thi pháp tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả trên cả phương diện nhân vật và biểu tượng. Cuối cùng, những tiểu thuyết còn lại của nhà văn cũng được nhìn nhận ở một số khía cạnh (như: nhân vật, trần thuật, tự sự, thời gian, không gian…) nhưng có ít bài viết hơn. Luận án Análisis sobre el protagonista de la novela de G.
Marquez El general en su laberinto (Phân tích thế giới nhân vật trong Tướng quân giữa mê hồn trận) của Hernado Loper Cuadros năm 2009 đã nghiên cứu thế giới nhân vật trong tiểu thuyết này. Tác giả đã phân tích thế giới nhân vật, chỉ ra nghệ thuật xây dựng nhân vật, ý nghĩa và tính biểu tượng của mỗi nhân vật trong Tướng quân giữa mê hồn trận. Phan Tuấn Anh đã phân tích cảm quan đa trị và tự sự mê lộ trong Tướng quân giữa mê hồn trận trong bài “Nghệ thuật tiểu thuyết trong Tướng quân giữa mê hồn trận của G. Marquez” đăng trên Tạp chí Văn học Nước ngoài, số tháng 9/2010.
Trong “Bút pháp hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ký sự về một cái chết đã được báo trước của G. Marquez” đăng trên Tạp chí Khoa học (Đại học Huế) số 62A năm 2010, Phan Tuấn Anh đã phân chia phương thức trần thuật mê lộ với các nội dung: xóa nhòa ranh giới thể loại của tác phẩm (tiểu thuyết, truyện ngắn, ký); điểm nhìn quá khứ và cấu trúc truyện kể (bao gồm sự đồng hiện thế hệ, số phận; sự xuất hiện liên tục của các yếu tố huyền ảo; đặt sự kiện trong thì quá khứ và hồi tưởng khác nhau và nhiễu hóa sự định vị minh bạch về không - thời gian nghệ thuật bằng phương pháp 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ẩn dụ); phân tích yếu tố huyền ảo thông qua các chi tiết: giấc mơ, huyễn ảo, định mệnh, nghệ thuật trần thuật - đa điểm nhìn. Tác giả đã khẳng định thành công của tác phẩm trên cả phương diện “phản ánh hiện thực” và “đổi mới tư duy nghệ thuật” của nhà văn. Tác giả viết bài “Cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết Giờ xấu của G.
Marquez” đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục (Đại học Huế) đã phân tích điều kiện hậu hiện đại Mỹ Latinh, tự sự nhiều điểm nhìn kiểu hậu hiện đại và hình tượng tờ rơi trong tác phẩm, từ đó Phan Tuấn Anh kết luận: “Giờ xấu là một ám dụ nghệ thuật, nhằm chỉ về bản chất sử tính và thời gian nghệ thuật ở Mỹ Latinh, một vùng đất chưa bao giờ cô đơn trong hoàn cảnh hậu hiện đại” [4, tr. Trong bài “Đặc trưng truyện trinh thám hậu hiện đại trong tiểu thuyết Tin tức về một vụ bắt cóc của G. Marquez” đăng trên Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số tháng 5/2010, Phan Tuấn Anh đã phân tích hai tuyến cốt truyện (tuyến của hai chị em dâu Maruja, Beatriz cùng Marina Montoya và tuyến của Diana Turbay, Azucena, Hero Buss, R. Vitta) và cốt truyện mê lộ (các tuyến truyện kể đan xen: tuyến chính: cảm xúc, cuộc sống, số phận, phát ngôn; tuyến phụ: nhân thân, con tin).
Bài viết cũng phân tích cảm quan đa trị và carnaval hóa thông qua đặc trưng giải thiêng, miêu tả cảm xúc lưỡng phân. Qua bài “Không - thời gian nghịch dị trong tiểu thuyết Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi” đăng trên Tạp chí Khoa học (Đại học Sư phạm Hà Nội), tập 58, số 6 năm 2013, Phan Tuấn Anh đã đề cập đến không gian nghệ thuật nghịch dị: nhà chứa và thời gian biến thiên đại diện cho thời gian nghịch dị. Bài viết “Yếu tố nghịch dị trong tiểu thuyết Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi của G. Marquez” của tác giả này đăng trên Tạp chí Khoa học (Đại học Huế), số 8, tập 86, 12/2013 đã chỉ ra những mã thẩm mỹ đặc thù của tác phẩm dựa trên cơ sở phân tích ngôn ngữ nghịch dị và không thời gian nghịch dị.
Như vậy, Trăm năm cô đơn và Tình yêu thời thổ tả là hai tác phẩm được nghiên cứu nhiều nhất. Mỗi công trình nghiên cứu tập trung làm rõ một số khía cạnh nổi bật của từng tác phẩm (như: yếu tố huyền thoại, đặc trưng thể loại: trinh thám, không - thời gian…). Điều này cho thấy, mặc dù G. Marquez đã được tiếp nhận ở Việt Nam nhưng các công trình nghiên cứu về nhà văn và sáng tác của ông không nhiều và mới chỉ tập trung vào một bộ phận nhà nghiên cứu.
Vì thế, còn nhiều “khoảng trống” để nghiên cứu về G. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hướng nghiên cứu G. Marquez như một đại diện tiêu biểu của văn học hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh và văn học hậu hiện đại Các công trình viết theo hướng này thường là những công trình nghiên cứu lý luận, lấy sáng tác của nhà văn để minh họa cho lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh hoặc chủ nghĩa hậu hiện đại.
Magical realism and the postcolonial novel between faith and irreverence (Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và tiểu thuyết hậu thực dân: niềm tin và thiếu hụt niềm tin) năm 2009, Christopher Warnes đã khẳng định G. Marquez như đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo hậu thực dân. Trong đó, chương 4 phân tích chủ nghĩa huyền ảo trong Trăm năm cô đơn. Yếu tố huyền ảo trong tiểu thuyết thể hiện qua các khía cạnh như: nhân vật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật.
Trong chương 1, tác giả nhấn mạnh đặc trưng sáng tác của G. Marquez là: “những điều phi lý liên tục được đề cập đến và đề cập đến một cách hợp lý” [195, tr.