mở đầu mỗi phức tập là các tướng lục địa thuộc hệ thống trầm tích biển thấp và kết thúc là các tướng ven biển thuộc hệ thống trầm tích biển tiến và biển cao. Luận điểm 3: Cát kết tuổi Kreta trên đảo Phú Quốc có khả năng chứa dầu kém đến rất tốt. Độ rỗng hiệu dụng và độ thấm biến thiên theo chu kỳ của địa tầng phân tập, cuối mỗi chu kỳ cát kết có chất lượng colectơ tốt nhất (Me>15%, K > 100mD) liên quan đến cát kết thạch anh thuộc tướng gian triều ven biển. Trầm tích tuổi Kreta sớm có nhiều tầng chứa tốt hơn trầm tích tuổi Kreta muộn (Me>20%, K 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com > 200mD) liên quan đến tướng cát bãi triều và đê cát ven bờ.
Những vấn đề mới của luận án - Lần đầu tiên phân tích chi tiết đặc điểm thạch học trầm tích tuổi Kreta trên đảo Phú Quốc và phân loại thành các nhóm đá, nhóm tướng theo quy luật phân bố không gian và thời gian. - Dựa vào mẫu của LK E2 và mẫu tại các điểm lộ khảo sát trên đảo, lần đầu tiên trầm tích tuổi Kreta trên đảo Phú Quốc được phân chia thành 10 phức tập, 22 nhóm phân tập, 42 phân tập trầm tích theo nguyên lý địa tầng phân tập. - Lần đầu tiên khả năng colectơ của đá trầm tích tuổi Kreta trên đảo Phú Quốc được đánh giá đồng bộ bằng phương pháp phân tích thạch học định lượng và phân tích các chỉ số colectơ của đá. Chất lượng colectơ của đá trầm tích tuổi Kreta trên đảo Phú Quốc thuộc các nhóm colectơ kém đến rất tốt.
Cấu trúc của luận án Luận án gồm 5 chương không kể mở đầu và kết luận Chương 1: Đặc điểm địa chất đảo Phú Quốc Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Đặc điểm thạch học và quy luật phân bố các đá tuổi Kreta trên đảo Phú Quốc Chương 4: Phân tích tướng đá, địa tầng phân tập và chu kỳ trầm tích Kreta trên đảo Phú Quốc Chương 5: Đánh giá triển vọng dầu khí của trầm tích tuổi Kreta trên đảo Phú Quốc 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT ĐẢO PHÚ QUỐC 1. VỊ TRÍ KHU VỰC NGHIÊN CỨU Trong phạm vi địa giới hành chính, đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, có diện tích 567 km2, cách thành phố Rạch Giá 120km về phía tây và cách thị xã Hà Tiên 45km. Đảo Phú Quốc trải dài từ 9053′ đến 10028′ độ vĩ bắc và từ 103049′ đến 104005′ độ kinh đông (Hình 1. Vị trí đảo Phú Quốc trên lãnh thổ Việt Nam 1.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT Trải qua quá trình phát triển địa chất lâu dài, đảo Phú Quốc có những nét đặc trưng riêng và độc đáo được thể hiện qua đặc điểm địa tầng và đặc điểm kiến tạo. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bản đồ địa chất đảo Phú Quốc (dựa theo bản đồ địa chất tỉ lệ 1:200.000 của Nguyễn Ngọc Hoa có chỉnh sửa) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Địa tầng Các thành tạo trầm tích trên đảo Phú Quốc được thể hiện dưới các hệ tầng sau: HỆ KRETA Hệ tầng Phú Quốc (K pq) Hệ tầng Phú Quốc (K pq) do Nguyễn Xuân Bao và nnk xác lập năm 1978, tuổi hệ tầng các tác giả xếp vào K1, trầm tích của hệ tầng lộ ra trên một diện rộng, chủ yếu là cát kết cấu tạo nên toàn bộ đảo Phú Quốc, các quần đảo An Thới và Thổ Chu ở vịnh Thái Lan.
Trầm tích chủ yếu là cát kết thạch anh - fenspat màu trắng, đôi khi phớt hồng, phân lớp trung bình đến dày xen kẽ với những lớp cuội kết hoặc xen kẹp với hạt cuội mài tròn, hầu hết là thạch anh, đá silic và các lớp mỏng bột kết màu đỏ nâu hoặc hồng. Khắp hệ tầng phổ biến sự phân lớp xiên kiểu châu thổ và lòng sông. Theo các tài liệu đo vẽ bản đồ địa chất 1/200.000 [19] và báo cáo địa chất và khoáng sản nhóm tờ Phú Quốc [15], trong phần thấp ở bờ đông và bắc đảo Phú Quốc có những lớp bột kết xám đen chứa huyền. Các đặc trưng trầm tích của đá Kreta sẽ được trình bày chi tiết tại chương 3 và chương 4 của luận án.
Ngay gần đảo Phú Quốc, về phía bắc, ở dãy núi Bokor thuộc Campuchia đã tìm thấy các sưu tập phong phú hoá thạch lá và phấn hoa chỉ đặc trưng cho tuổi Kreta sớm trong phần giữa và phần trên của mặt cắt tương tự hệ tầng Phú Quốc. Trong thời gian gần đây có nhiều quan điểm về phân chia tuổi của hệ tầng Phú Quốc, đó là các công bố của Trịnh Dánh [13], của Trương Công Đượng [16] cho rằng hệ tầng Phú Quốc có tuổi Neogen; Bùi Phú Mỹ, Trần Hồng Lĩnh cho rằng xuất hiện tuổi của đá cát kết trên đảo Phú Quốc là cả tuổi Kreta sớm và Kreta muộn [33]. Để khẳng định cho những kết quả nghiên cứu sẽ trình bày trong luận án, cũng như việc định tuổi của các thành tạo trầm tích được nghiên cứu trong luận án, NCS đã tham gia dự án hợp tác quốc tế giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Cục địa chất Đan mạch. Dự án đã tiến hành khảo sát và khoan lỗ khoan sâu 504m tại đảo Phú Quốc (LK E2).
Mẫu trong lõi khoan được nhóm dự án phân tích cổ sinh, kết quả thu được là các các hoá đá bào tử phấn Coptospora paradosa, tuổi Alpian tới Aptian tương ứng với tuổi Kreta sớm (K 1), kết quả này cũng trùng hợp với kết quả phân tích cát kết từ mẫu khoan ở độ sâu 496,46 - 496,73m bằng phương pháp nguyên tố vết, tuổi tuyệt đối được xác định là 51,3 ± 3,6 tr. năm, tương ứng là Kreta 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, các mẫu trầm tích trong LK E2, (độ sâu 68m trở xuống) đã được chính xác hóa tuổi là K1. Với các mẫu trầm tích thu thập ngoài thực địa, cũng như mẫu trong LKE2 (độ sâu 68m trở lên mặt đất), đã được luận án phân chia thành tuổi K2, (với 2 phần K21 và K22) phù hợp với những nghiên cứu của các nhà địa chất trong các phương án đo vẽ bản đồ địa chất khu vực [27,31], cơ sở để phân chia nhóm trầm tích tuổi Kreta muộn này hoàn toàn dựa vào địa tầng phân tập (sequence stratigraphy) chứ không dựa vào sinh địa tầng.
Theo địa tầng phân tập trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển, qua phân tích tướng thì phức hệ trầm tích nghiên cứu sinh gọi là K2 có đặc trưng của phức hệ tướng lòng sông miền núi và miền trung du, giai đoạn mở đầu một pha xâm thực mới của lòng sông và tương ứng với miền hệ thống trầm tích biển thấp, kết thúc phức tập này là tướng chuyển tiếp ven biển. Xuất hiện rải rác ven biển cùng trầm tích tuổi Kreta sớm. GIỚI CENOZOI HỆ ĐỆ TỨ Trầm tích Đệ tứ khu vực Phú Quốc khá phổ biến và có mặt từ Pleistocen tới Holocen. Các trầm tích Đệ tứ ở đây so với các vùng khác bề dày không lớn, hạt thường mịn và thay đổi tướng không rõ rệt.
Thống Pleistocen Phụ thống thượng phần trên (Q13b) Trầm tích biển (mQ13b) Theo các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hoa và nnk [6, 7, 8, 30, 34, 35, 55, 56, 57], trầm tích lộ trên mặt dưới dạng các bậc thềm biển có độ cao 10 - 20m trên đảo Phú Quốc. Tại xóm Mũi Đất Đỏ thuộc xã An Thới, thành phần trầm tích gồm: cát, bột, sét màu xám trắng, xám vàng, bở rời với cấp hạt: sạn hạt nhỏ (2,05%), cát (54,7%), bôt (22,25%), sét (21%). Các thông số trầm tích: Md = 0,13; So = 2,9; Sk = 0,5; Khoáng vật tạo đá: thạch anh chiếm phần chủ yếu, ít fenspat và mùn thực vật. Trong lỗ khoan thường thấy ở phía dưới chủ yếu là cát lẫn ít sạn sỏi, chuyển lên trên là bột sét màu nâu vàng, loang lổ.
Phần giáp mặt bị laterit hoá chứa nhiều kết hạch sắt. Bề dày hệ tầng không ổn định, thay đổi từ một vài mét tới 30 - 40m, phía 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên bị các trầm tích Holocen phủ bất chỉnh hợp lên. Thống Holocen Phụ thống trung (Q22) Trầm tích biển (mQ22) Trầm tích lộ ra ở dạng bậc thềm biển có độ cao 6 - 10m trên đảo Phú Quốc và một số đảo nhỏ khác. Thành phần của trầm tích chủ yếu là cát thạch anh (ở các thềm), bột, sét bột, sét (trong các lớp bị chôn vùi) và tuỳ từng nơi chúng có lẫn ít sạn sỏi hoặc xác, mùn thực vật và vỏ sò, điệp.
Trong các lỗ khoan thường phát hiện được hoá thạch Foraminifera và Tảo nước mặn. Đa số các nhà địa chất có chung nhận định về tuổi của trầm tích, đó là chúng liên quan đến ngấn sóng vỗ trên các vách đá vôi ở khu vực Hòn Chông có độ cao 4 - 5m và các ám tiêu vỏ sò ở khu vực Ba Thê - Núi Sập có giá trị tuổi C14 từ 5570 ± 120 đến 5680 ± 120 năm. Bề dày hệ tầng 3 - 4m. Thống Holocen Phụ thống thượng (Q23) Trầm tích phân làm hai phần, chủ yếu là trầm tích biển.
Phần dưới: Trầm tích biển (mQ23a): phân bố ven đường bờ biển hiện đại ở độ cao 2 - 4m trên đảo Phú Quốc, ngoài ra cũng thấy trầm tích này xuất hiện tại Hòn Chông - Hà Tiên. Thành phần chủ yếu là cát hạt vừa đến mịn lẫn ít bột sét và vỏ sò. Trầm tích có màu trắng, xám vàng. Trầm tích gió (vQ23a): phân bố trên đảo thành một dải hẹp dài khoảng 6km theo phương bắc nam từ Dương Tơ tới gần mũi Tàu Rũ, bắc sân bay An Thới… Thành phần gồm cát hạt mịn, hạt vừa màu xám vàng, xám sáng với thạch anh chiếm khoảng 94 - 98%.
Cát này có thể sử dụng làm cát xây dựng, nguyên liệu thuỷ tinh bao bì. Bề dày của trầm tích Holocen thượng phần dưới khoảng 5m. Phần trên: trầm tích biển (mQ23b): phân bố ở các bãi triều hiện đại, thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều, khu vực phân bố rộng nhất là phía đông đảo, trầm tích nối thành các dải kéo dài theo đường bờ biển. Thành phần trầm tích tuỳ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc vào nguồn cấp, chủ yếu là cát lẫn ít sỏi sạn và vỏ sò.
Bề dày trầm tích thay đổi từ 1m đến 4m. Trầm tích sông (aQ23b): phân bố dọc các dòng sông suối trên đảo, tập trung lượng lớn hơn ở phía bắc đảo. Thành phần chủ yếu là: bột, sét, đôi nơi có cát, sạn. Bề dày thay đổi 1 - 4m.