Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao, xếp thứ 16 trên phạm vi toàn cầu về thành phần loài sinh vật nhờ vị trí địa sinh học nằm tại giao điểm của các luồng khu hệ thực vật - động vật Ấn Độ, Nam Trung Hoa và Malaysia. Trong các nhóm động vật hoang dã, bộ Rùa (Testudinata) giữ vai trò sinh thái quan trọng đối với các chu trình tự nhiên, đồng thời mang giá trị văn hóa, tâm linh và dược liệu. Tuy nhiên, trước tác động kép của tốc độ đô thị hóa, suy giảm sinh cảnh rừng tự nhiên cùng áp lực săn bắt, buôn bán động vật hoang dã trái phép phục vụ nhu cầu thực phẩm và đông y, các loài rùa cạn và rùa nước ngọt tại Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng nghiêm trọng. Số lượng cá thể rùa tịch thu từ các vụ buôn bán trái phép liên tục gia tăng, trong khi dữ liệu khoa học về đặc tính sinh học, sinh thái thực địa và kỹ thuật nhân nuôi bảo tồn phục hồi quần thể còn rất hạn chế.

Loài Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons Bourret, 1939) thuộc họ Rùa đầm (Geoemydidae/Emydidae), là loài bản địa quý hiếm được xếp vào nhóm Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), thuộc Phụ lục II của Công ước CITES, được xếp hạng Nguy cấp (EN) trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và thuộc danh mục loài thủy sinh, động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Xuất phát từ yêu cầu bổ sung tư liệu chuyên ngành làm cơ sở khoa học cho công tác cứu hộ, chăm sóc và đề xuất các giải pháp quản lý quần thể, khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường của tác giả Vũ Thị Lan Anh (Trường Đại học Lâm nghiệp, 2018) đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons Bourret, 1939) tại trung tâm bảo tồn rùa Vườn Quốc Gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:

  1. Mục tiêu chung: Cung cấp cơ sở khoa học cho các giải pháp quản lý, chăm sóc và bảo tồn loài Rùa hộp trán vàng tại Trung tâm Bảo tồn Rùa (TCC) - Vườn Quốc gia Cúc Phương.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định được các đặc điểm sinh học cơ bản (hình thái, khối lượng kích thước, tập tính hoạt động trong ngày, đặc điểm sinh sản) và đặc điểm sinh thái (sinh cảnh vi khí hậu nơi sống, thành phần thức ăn, mức độ ưa thích thức ăn) của loài Rùa hộp trán vàng trong điều kiện nuôi nhốt bán tự nhiên.
    • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, phát triển loài Rùa hộp trán vàng trong điều kiện tự nhiên và nhân nuôi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các cá thể loài Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) đang được cứu hộ, lưu giữ và nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo tồn Rùa (TCC), Vườn Quốc gia Cúc Phương.
  • Phạm vi không gian: Khu chuồng nuôi bán hoang dã và phòng ấp trứng nhân tạo thuộc Trung tâm Bảo tồn Rùa, Vườn Quốc gia Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực nghiệm và thu thập số liệu trong thời gian 4 tháng, từ ngày 12 tháng 01 năm 2018 đến ngày 28 tháng 04 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống phân loại học bò sát hiện đại, các quy chuẩn phân hạng bảo tồn quốc tế (IUCN Red List, CITES) và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Nghị định 160/2013/NĐ-CP, Sách đỏ Việt Nam 2007). Khung lý thuyết phân loại dựa trên các chuyên khảo kinh điển và tài liệu định loại bò sát như: Bourret (1941), Đào Văn Tiến (1977, 1978), Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2005), cùng cẩm nang hướng dẫn định dạng rùa cạn và rùa nước ngọt của Hendrie et al. (2010), Stuart et al. (2001, 2011).

Để giải quyết các nội dung chuyên môn, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp điều tra nghiên cứu động vật rừng chuyên ngành:

  1. Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu khí hậu, thủy văn, địa hình, tài nguyên sinh vật tại Vườn Quốc gia Cúc Phương qua trạm khí tượng Nho Quan và các báo cáo khoa học của Trung tâm TCC, Tổ chức FFI, ATP, WWF; kế thừa dữ liệu phân bố và phân loại học bộ Rùa.
  2. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn trực tiếp 7 cán bộ chuyên trách và nhân viên kỹ thuật tại Trung tâm Bảo tồn Rùa Cúc Phương theo phiếu câu hỏi soạn sẵn nhằm thu thập dữ liệu lịch sử cứu hộ, tập tính sinh sản (chu kỳ giao phối, thời gian mang thai, đẻ trứng), chế độ dinh dưỡng và quy trình ấp nở trứng nhân tạo.
  3. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học:
    • Nghiên cứu hình thái học: Quan sát, chụp ảnh, mô tả chi tiết màu sắc, hoa văn, cấu tạo mai, yếm, chi, đầu, mắt, đuôi và lỗ huyệt để định danh hình thái và xác định giới tính.
    • Đo đạc kích thước và khối lượng: Sử dụng thước dây, thước kẹp cơ khí chuyên dụng và cân điện tử để đo chiều dài mai (CL), chiều rộng mai (CW), chiều cao vỏ, chiều dài yếm trước và sau bản lề, cùng khối lượng cơ thể. Mẫu đo thực hiện trên 19 cá thể phân thành 3 nhóm tuổi: rùa trưởng thành (≥ 5 tuổi, $n = 12$), rùa nhỡ (4–5 tuổi, $n = 5$) và rùa non (≤ 3 tuổi, $n = 2$).
    • Nghiên cứu tập tính theo phương pháp lấy mẫu trọng tâm (Focal animal sampling): Lựa chọn cá thể đại diện và theo dõi liên tục các hành vi xuất hiện trong 4 ngày liên tiếp, khoảng thời gian lấy mẫu là 10 phút/lần. Khung giờ quan sát chia thành 2 ca mỗi ngày (sáng từ 7h30 đến 11h30; chiều từ 13h30 đến 17h30, tổng thời gian 8 giờ/ngày = 480 phút/ngày). Các hành vi được lượng hóa gồm: nghỉ ngơi, ẩn nấp, ăn uống, di chuyển (vận động), sưởi nắng và ngâm mình dưới nước.
    • Theo dõi chỉ số sinh sản: Ghi nhận kích thước thành thục, thời gian ghép đôi, tập tính giao phối, hành vi làm tổ, số lượng trứng, tỷ lệ trứng có phôi, nhiệt độ phòng ấp máy (26°C – 30°C) và tỷ lệ ấp nở thành công.
  4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh thái:
    • Nghiên cứu cấu trúc sinh cảnh: Lập ô tiêu chuẩn kích thước $3 \times 3\text{ m}$ tại chuồng nuôi bán hoang dã; định lượng tỷ lệ che phủ thảm thực vật (%), tỷ lệ đá nổi (%), đo khoảng cách đến nguồn nước suối/ao nhân tạo (cm), kết hợp máy đo nhiệt độ và độ ẩm không khí theo thời gian thực.
    • Nghiên cứu thành phần và nhu cầu thức ăn: Thử nghiệm đánh giá tính lựa chọn thức ăn trong 10 ngày (chia thành các đợt 3–5 ngày/đợt, mỗi đợt kiểm tra 3–6 loại thức ăn) với cùng một khối lượng cung cấp tại cùng một thời điểm. Xếp loại mức độ ưa thích: loài thức ăn được tiêu thụ trước với tỷ lệ > 75% xếp loại ưa thích (+++), từ 50% – 70% xếp loại bình thường (++), < 50% xếp loại ít ưa thích (+). Xác định lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày qua công thức cân đo khối lượng thừa: $$L = C - T$$ (Trong đó: $L$ là lượng thức ăn tiêu thụ trong ngày; $C$ là lượng thức ăn cung cấp ban đầu; $T$ là lượng thức ăn còn thừa thu lại cuối ngày).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 cung cấp tổng quan về bộ Rùa (Testudinata) với các đặc trưng giải phẫu cơ bản: động vật biến nhiệt, thở bằng phổi nhiều ngăn, cơ thể được bao bọc bởi lớp mai và yếm có vảy sừng, hàm không có răng, thụ tinh trong và trứng có vỏ đá vôi. Tác giả thống kê cấu trúc thành phần loài rùa tại Việt Nam với 30 loài, bao gồm 5 loài rùa biển (thuộc 2 họ: Cheloniidae và Dermochelyidae) và 25 loài rùa cạn, rùa nước ngọt (thuộc 4 họ: Platysternidae, Geoemydidae, Testudinidae và Trionychidae). Trong đó, có 21 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN, 21 loài thuộc Công ước CITES, 4 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP và 9 loài có mặt trong Sách đỏ Việt Nam.

Phần vị trí phân loại xác lập loài Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons Bourret, 1939) thuộc phân bộ Rùa cổ ẩn (Cryptodira), họ Rùa đầm (Geoemydidae/Emydidae). Vùng phân bố tự nhiên trong nước trải dài từ Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam đến Kon Tum; trên thế giới phân bố tại Lào và Trung Quốc. Chương 1 thiết lập bảng đối sánh phân biệt hình thái giữa 3 loài rùa hộp thuộc phức hợp Cuora galbinifrons:

Bộ phận nhận diện Rùa hộp trán vàng miền Bắc (Cuora galbinifrons) Rùa hộp trán vàng miền Trung (Cuora bourreti) Rùa hộp trán vàng miền Nam (Cuora picturata)
Đặc điểm mai Thuôn dài, gờ sống lưng nổi rõ, các vệt đen phân bố khác nhau, đỉnh mai đen hơn hai bên, nhiều đốm đen ở rìa mai. Mai gồ cao, chiều dài trung bình khoảng 28 cm, thấp và thuôn dài hơn dạng miền Nam. Mai ngắn, gồ cao rõ rệt, thường không có màu đen hoặc chỉ có vài đốm nhỏ xung quanh rìa mai.
Đặc điểm yếm Màu đen đồng nhất hoặc gần như đen hoàn toàn; có bản lề cử động linh hoạt giúp khép kín thân. Màu sắc chuyển biến từ nâu sẫm, đen đến vàng với các chấm đen trên từng tấm yếm; có bản lề. Màu vàng chủ đạo, xuất hiện các chấm đen riêng biệt trên mỗi tấm yếm; có bản lề đóng kín cơ thể.
Đặc điểm đầu Đầu màu vàng hoặc cam, có nhiều đốm đen với kích thước khác nhau. Đầu có màu sắc sặc sỡ, nền màu vàng với các chấm đen nhạt kích thước biến thiên. Hoa văn và đốm đen trên đỉnh đầu có sự sai dị lớn giữa các cá thể trong cùng một quần thể.

Chương này cũng tổng lược lịch sử nghiên cứu rùa: trên thế giới từ các công trình cổ điển của Gray (1831, 1856, 1870), Boulenger (1889), Ernst & Barbour (1989), Bourret (1941); và tại Việt Nam qua các cột mốc khảo sát của Đào Văn Tiến (1977, 1978), Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1979, 1997), Hà Đình Đức (2000), Tim McCormack (2008), cùng các dự án bảo tồn của ATP, WWF và ENV.

Chương 2: Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện địa lý - sinh thái của Vườn Quốc gia Cúc Phương. Vườn nằm ở phía Tây tỉnh Ninh Bình (tọa độ từ 20°14' đến 20°24' vĩ Bắc, 105°29' đến 105°44' kinh Đông), trải rộng trên 22.200 ha thuộc địa bàn 3 tỉnh: Ninh Bình (11.350 ha), Thanh Hóa (5.850 ha) và Hòa Bình (5.000 ha). Cơ cấu quản lý phân thành 3 phân khu: Khu bảo vệ nghiêm ngặt (20.745 ha), Khu dịch vụ - hành chính (743 ha) và Vành đai vùng đệm. Địa hình Cúc Phương mang đặc trưng karst nửa che phủ với các dãy núi đá vôi Tam Điệp cao trung bình 400 – 450 m (đỉnh cao nhất là Mây Bạc 656 m), xen kẽ các thung lũng đồi đất sét hẹp cao 200 – 350 m. Thủy văn chủ yếu chảy ngầm qua hệ thống hang karst, dòng mặt chỉ có sông Bưởi, sông Ngang và các khe suối cạn theo mùa.

Về khí hậu (theo số liệu trạm khí tượng Nho Quan), khu vực mang tính chất nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ trung bình năm đạt 23,4°C (tháng 1 thấp nhất đạt 15,7°C, tháng 6 cao nhất đạt 29,5°C); độ ẩm không khí trung bình năm đạt 84,8%. Lượng mưa trung bình năm đạt 2.157 mm với 224 ngày mưa; mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 (chiếm 89,1% lượng mưa cả năm, nhiệt độ trung bình 26,4°C), mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (chiếm 10,9% lượng mưa, nhiệt độ bình quân 18,6°C). Hệ thực vật ghi nhận 2.433 loài thuộc 944 chi, 223 họ (ngành Hạt kín chiếm 88,08%; có 118 loài trong Sách đỏ Việt Nam 1997). Hệ động vật ghi nhận 136 loài thú, 336 loài chim, 76 loài bò sát (28 loài quý hiếm), 46 loài lưỡng cư và 66 loài cá. Dân cư vùng đệm gồm 74.118 nhân khẩu (17.028 hộ) thuộc 14 xã, trong đó dân tộc Mường chiếm 76,6%, dân tộc Kinh chiếm 23,4%; lao động nông - lâm nghiệp chiếm 91,85%.

Chương 3: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày hệ thống mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu như đã nêu tại mục cơ sở phương pháp. Chương này thiết kế quy trình đo đạc giải phẫu rùa chuẩn hóa: đo chiều dài mai bằng thước kẹp chạy dọc theo trục sống lưng từ vết khuyết cổ đến chóp vảy hậu môn; đo chiều rộng tại phần thân bè lớn nhất; đo chiều dài yếm gồm phần yếm trước và sau bản lề; đo chiều cao vòm vỏ từ mặt phẳng yếm tới đỉnh nhô cao nhất của mai. Hệ thống phân loại hành vi 6 nhóm trạng thái (vận động, ăn uống, nghỉ ngơi, sưởi nắng, ẩn nấp, ngâm mình) và quy chuẩn đánh giá tính ngon miệng của thức ăn bằng phương pháp cân khối lượng thừa được chi tiết hóa phục vụ thu thập dữ liệu khách quan.

Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả

Chương 4 tập trung các số liệu điều tra thực nghiệm gốc về hình thái, sinh trưởng, tập tính, sinh sản và sinh thái dinh dưỡng của loài:

  1. Hình thái và phân biệt giới tính: Rùa trưởng thành có chiều dài mai trung bình đạt khoảng 28 cm, khối lượng khoảng 1 kg. Con cái có kích thước lớn hơn, thân tròn hơn, yếm phẳng, đuôi ngắn nhỏ. Con đực có phần yếm lõm vào trong (hỗ trợ quá trình giao phối trèo lên lưng con cái), chóp sau mai có rãnh khuyết chữ V nhỏ, đuôi dài to, lỗ huyệt dạng khe dài nằm lùi xa gốc cuống đuôi hơn so với lỗ huyệt hình sao nằm sát gốc thân của con cái. Con non và con trưởng thành tương đồng về hình thái ngoài, độ tuổi được xác định thông qua số vòng vân tăng trưởng hàng năm trên các tấm vảy sừng của mai.

  2. Kích thước và khối lượng cơ thể: Khóa luận công bố bảng đo chi tiết trên 19 cá thể đại diện cho 3 lứa tuổi:

Nhóm đối tượng nghiên cứu Cỡ mẫu ($n$) Chiều dài mai trung bình (mm) Chiều rộng mai trung bình (mm) Khối lượng cơ thể trung bình (g)
Rùa trưởng thành (≥ 5 tuổi) 12 194,77 (biến thiên 162,0 – 234,9) 143,13 (biến thiên 112,0 – 183,0) 823,13 (biến thiên 658,0 – 1036,0)
Rùa nhỡ (4 – 5 tuổi) 5 141,80 (biến thiên 128,4 – 156,3) 101,14 (biến thiên 90,0 – 126,8) 420,70 (biến thiên 258,5 – 528,9)
Rùa non (≤ 3 tuổi) 2 97,90 (biến thiên 82,3 – 113,5) 81,80 (biến thiên 76,1 – 87,5) 73,30 (biến thiên 68,7 – 77,9)
  1. Hoạt động tập tính theo nhịp ngày đêm: Rùa hộp trán vàng là loài hướng ẩm, ưa nhiệt độ mát (22°C – 24°C, độ ẩm 80%). Hoạt động di chuyển tăng cao vào đầu giờ sáng hoặc khi thời tiết thay đổi trước và sau cơn mưa. Dữ liệu quan sát 8 giờ/ngày (480 phút) trong 4 ngày liên tiếp được tổng hợp định lượng:
Loại hình tập tính Rùa nhỡ: Thời gian (phút) Rùa nhỡ: Tỷ lệ (%) Rùa trưởng thành: Thời gian (phút) Rùa trưởng thành: Tỷ lệ (%)
Nghỉ ngơi 200 41,67 150 31,25
Sưởi nắng 120 25,00 60 12,50
Ẩn nấp 70 14,58 90 18,75
Di chuyển 40 8,33 80 16,67
Ăn uống 30 6,25 60 12,50
Ngâm mình 20 4,17 40 8,33
Tổng cộng 480 100,00 480 100,00

Rùa nhỡ dành ưu tiên thời gian cho nghỉ ngơi (41,67%) và sưởi nắng (25,00%, tương đương 2 giờ/ngày từ 9h đến 11h sáng để tổng hợp vitamin D3 và hấp thu canxi phát triển xương mai). Rùa trưởng thành có mức độ vận động và ăn uống cao hơn gấp đôi so với rùa nhỡ (di chuyển chiếm 16,67% so với 8,33%; ăn uống chiếm 12,50% so với 6,25%).

  1. Đặc điểm sinh sản và năng lực nhân giống nhân tạo: Loài đạt tuổi thành thục sinh dục từ 5 – 6 năm, khi khối lượng cơ thể đạt từ 800 g – 1000 g. Mùa sinh sản diễn ra vào đầu mùa hè (tháng 4 đến tháng 6), biểu hiện vùng da quanh mắt và mũi ửng hồng. Quá trình giao phối gồm hành vi con đực rượt đuổi, dùng mai trước húc vào mai con cái, cắn giữ da cổ con cái và giao vĩ. Một cá thể rùa đực có khả năng thụ tinh cho 3 – 4 con cái mỗi mùa. Rùa cái mang thai khoảng 3 tháng và đẻ trứng duy nhất một lứa vào tháng 6. Rùa không đào hố đất sâu mà đẻ trực tiếp vào các đống thảm mục, đống cỏ khô sát gốc cây. Bảng theo dõi khả năng sinh sản tại trung tâm ghi nhận:
Chỉ số theo dõi năng lực sinh sản Ký hiệu quy ước Giá trị ghi nhận
Tổng số đàn bố mẹ theo dõi $a$ 12 cá thể
Tổng số cá thể cái $b$ 9 cá thể
Số cá thể cái tham gia sinh sản $c$ 4 cá thể
Tổng số trứng thu được $d$ 11 quả
Số trứng đạt tiêu chuẩn ấp (có phôi) $e$ 7 quả
Số con non nở thành công $f$ 5 cá thể
Tỷ lệ cá thể cái sinh sản $c/b$ 55,55%
Số trứng bình quân/ổ (con cái) $d/c$ 2,75 quả/ổ
Tỷ lệ trứng có phôi đạt chuẩn ấp $e/d$ 63,64%
Tỷ lệ ấp nở thành công $f/e$ 71,40%
Hệ số con cái/con non đạt được $c/f$ 0,80

Thời gian ấp trứng nhân tạo bằng máy kéo dài 3 tháng ở nhiệt độ kiểm soát liên tục từ 26°C – 30°C.

  1. Đặc điểm sinh thái sinh cảnh và chế độ dinh dưỡng:
    • Sinh cảnh chuồng nuôi: Diện tích chuồng bán hoang dã duy trì nhiệt độ trung bình 25°C, độ ẩm không khí 80%, độ che phủ thảm thực vật trung bình 50% (dao động từ 20% đến 60% nhờ tán cây ráy, dong riềng, chuối rừng), khoảng cách từ vị trí rùa nằm đến nguồn nước trung bình 100 cm (dao động 5 – 130 cm), tỷ lệ đá nổi 0%. Chuồng bố trí hang đá nhân tạo giữ nhiệt độ ổn định 18°C – 22°C và các đống cỏ khô làm nơi trú ẩn tránh sốc nhiệt. Trung tâm kích hoạt hệ thống phun sương tự động khi độ ẩm môi trường tụt dưới 70%.
    • Thành phần thức ăn: Đề tài xác định danh mục 12 loại thức ăn qua thử nghiệm:
Nhóm ưa thích Loài thức ăn Phương thức chế biến
Rất ưa thích (+++) Khoai lang, Chuối chín, Giun đất Luộc chín thái nhỏ (khoai); thái lát mỏng (chuối); cắt đôi (giun).
Bình thường (++) Cà chua, Bí đỏ, Cà rốt, Ốc nước ngọt, Cá nhỏ Thái nhỏ (cà chua, bí đỏ, cà rốt); cho ăn tươi sống nguyên con (ốc, cá).
Ít ưa thích (+) Rau xà lách, Xoài chín, Bắp cải, Đậu phụ Xay nhuyễn (xà lách, bắp cải, đậu phụ); thái nhỏ (xoài).

Bên cạnh đó, chuồng nuôi còn trồng bổ sung 3 loài thủy sinh và thực vật tươi làm nguồn thức ăn phụ trợ tự nhiên gồm: cây ráy, bèo tây và rong đuôi chồn.

Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Tác giả tóm tắt toàn bộ các phát hiện về sinh học hình thái, kích thước tăng trưởng theo độ tuổi, sinh lý sinh sản và tính lựa chọn thức ăn của loài. Đồng thời nêu các mặt hạn chế của nghiên cứu do thời gian thực tập ngắn (4 tháng), chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng đa năm ngoài tự nhiên; từ đó kiến nghị trung tâm tiếp tục hoàn thiện khẩu phần dinh dưỡng luân phiên, duy trì độ ẩm chuồng nuôi trên 75% bằng hệ thống phun sương và tăng cường kiểm soát nhiệt độ phòng ấp phôi.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận mang lại hệ thống dẫn liệu sinh học và sinh thái học thực nghiệm chuẩn xác đối với loài rùa quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng:

  • Cung cấp bộ thông số sinh trắc học hoàn chỉnh cho 3 nhóm tuổi của loài Rùa hộp trán vàng trong điều kiện nhân nuôi: chiều dài mai đạt trung bình 194,77 mm (trưởng thành), 141,80 mm (nhỡ) và 97,90 mm (non); khối lượng cơ thể tương ứng đạt 823,13 g; 420,70 g và 73,30 g.
  • Lượng hóa ngân sách thời gian hoạt động trong ngày của loài qua phương pháp lấy mẫu trọng tâm: chứng minh tập tính ít vận động, thiên về nghỉ ngơi (31,25% – 41,67%) và ẩn nấp (14,58% – 18,75%); làm rõ vai trò sinh lý của hành vi sưởi nắng ở rùa non và rùa nhỡ (chiếm tới 25,00% thời gian hoạt động ban ngày, tức 120 phút/ngày) trong việc thúc đẩy vôi hóa mai.
  • Xác lập các tham số kỹ thuật về sinh sản nhân tạo: tỷ lệ rùa cái sinh sản đạt 55,55%, số trứng bình quân đạt 2,75 quả/ổ (cao hơn năng suất ngoài tự nhiên là 1 – 3 trứng), tỷ lệ trứng có phôi đạt 63,64% và tỷ lệ ấp nở thành công đạt 71,40% dưới điều kiện nhiệt độ máy ấp 26°C – 30°C trong chu kỳ 3 tháng.
  • Xây dựng danh mục thức ăn thực nghiệm 12 loại, xác định được 3 loại thức ăn tối ưu gồm khoai lang luộc, chuối chín và giun đất, cùng ngưỡng vi khí hậu thích hợp (nhiệt độ 24°C – 28°C, độ ẩm 75% – 80%).

Đóng góp mới so với các nghiên cứu trước: Khóa luận không dừng lại ở mô tả phân loại hình thái đơn thuần ngoài thực địa như các công trình của Bourret (1941) hay Đào Văn Tiến (1978), mà đi sâu kiểm chứng thực nghiệm các hành vi sinh thái, tập tính thích nghi và các chỉ số sinh học sinh sản trong môi trường nuôi nhốt bán tự nhiên có kiểm soát tại Trung tâm TCC.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số điểm tồn tại do giới hạn khách quan:

  • Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Đề tài chỉ thực hiện trong phạm vi 4 tháng (từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2018), chưa bao quát toàn bộ chu kỳ 12 tháng của năm, đặc biệt chưa theo dõi trực tiếp giai đoạn đẻ trứng tự nhiên vào tháng 6 mà phải kết hợp dữ liệu phỏng vấn và số liệu lưu trữ.
  • Cỡ mẫu giới hạn: Số lượng rùa non nghiên cứu còn ít ($n = 2$) do số cá thể rùa non cứu hộ thành công tại trung tâm hạn chế, gây khó khăn cho việc phân tích thống kê phương sai kích thước ở lứa tuổi ≤ 3 tuổi.
  • Không gian nghiên cứu: Dữ liệu thu thập hoàn toàn tại chuồng nuôi nhân tạo của Trung tâm TCC, chưa có điều kiện so sánh đối chứng với các quần thể rùa hoang dã phân bố ngoài sinh cảnh tự nhiên tại các vùng đệm và vùng lõi của Vườn Quốc gia Cúc Phương.

Hướng mở rộng đề tài: Tiếp tục theo dõi biến động tập tính theo mùa (đặc biệt trong mùa ngủ đông/ngừng hoạt động khi nhiệt độ hạ thấp dưới 15°C); nghiên cứu sâu hơn về dịch bệnh đường tiêu hóa và quy trình thả rùa về môi trường sống tự nhiên sau cứu hộ.


Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế cho:

  • Cán bộ kỹ thuật, bác sĩ thú y và nhân viên cứu hộ tại các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên có lưu giữ các loài rùa cạn và rùa nước ngọt nguy cấp: tham khảo quy chuẩn thiết kế chuồng nuôi bán tự nhiên, thông số nhiệt ẩm, quy trình ấp trứng máy và kỹ thuật phối trộn thức ăn.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Bảo tồn Đa dạng Sinh học, Lâm học, Sinh thái học, Động vật học: sử dụng làm mẫu phương pháp luận trong việc triển khai kỹ thuật lấy mẫu quan sát tập tính trọng tâm (Focal sampling), phương pháp đánh giá dinh dưỡng động vật và phân biệt hình thái học các phân loài rùa hộp trán vàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Rùa hộp trán vàng miền Bắc (Cuora galbinifrons) khác rùa hộp trán vàng miền Trung và miền Nam ở những đặc điểm nhận dạng chính nào?
Rùa hộp trán vàng miền Bắc có yếm màu đen hoàn toàn hoặc gần đen hoàn toàn, mai thuôn dài với chóp lưng sẫm màu hơn hai bên sườn và nhiều đốm đen ở rìa mai. Ngược lại, dạng miền Trung (Cuora bourreti) có yếm thay đổi từ nâu sẫm đến vàng có chấm đen; dạng miền Nam (Cuora picturata) có yếm màu vàng với các chấm đen trên từng tấm yếm, mai ngắn và vòm mai gồ cao rõ rệt.

2. Làm thế nào để phân biệt giới tính ở các cá thể Rùa hộp trán vàng trưởng thành?
Con cái có kích thước mai dài và thân tròn hơn, phần yếm phẳng, lỗ huyệt hình tròn/hình sao nằm sát gốc thân, đuôi ngắn nhỏ. Con đực có phần yếm lõm vào trong, chóp sau mai có khuyết rãnh chữ V nhỏ, đuôi to dài hơn và lỗ huyệt dạng khe nằm cách xa thân rùa.

3. Khẩu phần ăn nào giúp Rùa hộp trán vàng tăng trưởng tốt và các loại thức ăn nào được chúng ưa thích nhất?
Qua kiểm chứng thực nghiệm 12 loại thức ăn, rùa thích ăn nhất (mức độ +++) ba loại gồm: khoai lang (luộc chín, thái nhỏ), chuối chín (thái lát) và giun đất (cắt đôi). Ngoài ra, chúng ăn các loại quả, củ, ốc nhỏ, cá tươi và các loài thực vật thủy sinh trồng trong chuồng như ráy, bèo tây, rong đuôi chồn.

4. Hiệu quả sinh sản nhân tạo của loài tại Trung tâm Bảo tồn Rùa Cúc Phương đạt được như thế nào?
Trong đàn theo dõi 12 cá thể (9 cái), có 4 cá thể cái sinh sản (đạt 55,55%), đẻ được 11 quả trứng (trung bình 2,75 quả/ổ). Số trứng có phôi đủ tiêu chuẩn ấp là 7 quả (đạt 63,64%), ấp nở thành công bằng máy trong 3 tháng ở nhiệt độ 26°C – 30°C được 5 cá thể non (tỷ lệ ấp nở thành công đạt 71,40%).

5. Điều kiện vi khí hậu tối ưu trong chuồng nuôi bán hoang dã của loài được duy trì như thế nào?
Chuồng nuôi duy trì nhiệt độ trung bình khoảng 25°C (ngưỡng tối ưu từ 24°C – 28°C vào mùa hè, hang trú ẩn từ 18°C – 22°C), độ ẩm không khí trung bình 80%, độ che phủ thảm thực vật từ 50% – 60%. Khi độ ẩm môi trường tự nhiên xuống dưới 70%, trung tâm vận hành hệ thống vòi phun sương để đưa độ ẩm trở lại mức 75% – 80% nhằm tránh sốc nhiệt cho rùa.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Lan Anh đã hệ thống hóa đầy đủ các dẫn liệu thực nghiệm về đặc điểm sinh học hình thái, kích thước tăng trưởng, ngân sách tập tính ngày đêm, sinh thái dinh dưỡng và kỹ thuật nhân giống nhân tạo loài Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) tại Trung tâm TCC - Vườn Quốc gia Cúc Phương. Các thông số định lượng cụ thể về tập tính sưởi nắng, tỷ lệ ấp nở thành công bằng máy đạt 71,40% và nhóm thức ăn ưa thích là cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác cứu hộ bò sát bản địa. Công trình đóng góp tài liệu kỹ thuật có giá trị thực tiễn cao, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, nuôi dưỡng và bảo tồn nguồn gen loài rùa quý hiếm này trước nguy cơ tuyệt chủng.