Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh học của loài rùa Theo Nguyễn Văn Sáng và cs, (2005) [21]; Bộ rùa (Testudinata) bao gồm các loài bò sát quen thuộc với nhiều dân tộc trên thế giới. Trên thế giới có khoảng 300 loài rùa; trong đó Châu Á có khoảng 90 loài, chiếm 1/3 tổng số rùa trên thế giới.
Việt Nam có 30 loài, trong đó có 25 loại rùa cạn và rùa nước ngọt, 05 loại rùa biển. Có một số loài đặc hữu như: Rùa hộp ba vạch (Cuora triffasciata), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifron)… Việt Nam là một trong những điểm có tính đa dạng loài rùa cao, có nhiều loại quý hiếm. Loài rùa nói chung có những đặc điểm như sau: 1. Tập tính sinh thái của loài rùa Theo Nguyễn Hữu Hoàng, Lương Xuân Lâm, (2010) [12]); loài rùa là một trong những loài động vật có tuổi thọ cao, đặc biệt là loài rùa biển, nếu ở môi trường thuận lợi chúng có thể sống vài trăm năm.
Rùa có khả năng chịu đựng kham khổ tốt so với các loài động vật khác, một phần là do cấu tạo cơ thể của rùa thường có dạng hộp, chân nằm ngang, khi di chuyển bụng vẫn sát mặt đất, vì vậy khả năng di chuyển để kiếm mồi bị hạn chế, cũng chính vì lý do này mà rùa nhiều khi bị đói và có khả năng nhịn đói trong một thời gian ngắn. Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng sẽ ăn thật nhiều để tạo nguồn năng lượng dự trữ dồi dào, không cử động, để cho hoạt động chuyển hóa thức ăn giảm đến mức nhỏ nhất. Rùa là động vật biến nhiệt, nhiệt độ trong cơ thể của rùa có sự thay đổi tùy theo sự thay đổi của nhiệt độ môi trường xung quanh. Rùa thường thích 4 hợp với nhiệt độ nóng ẩm, khi nhiệt độ môi trường giảm xuống thấp; một số loài rùa có khả năng ngủ đông để chống rét, tuy nhiên không phải loài rùa nào cũng ngủ đông để tránh rét.
Mai rùa rất cứng: Do thay đổi của khí hậu và quá trình hình thành, mai rùa trở lên rắn chắc, để bảo vệ ngũ tạng và tránh được sự thoát hơi nước. Vì vậy khi bị tấn công; rùa thường co đầu, đuôi, bốn chân vào mai để phòng vệ. Đặc tính kiếm ăn Ở môi trường tự nhiên, rùa chủ yếu ăn các loại động vật như: côn trùng, tôm tép, cua, cá. Còn khi nuôi, chúng thích ăn những con vật đã bắt đầu ươn thối; chúng ăn cả chuối, rau các loại, lúc ăn rùa thường có tập tính tranh cướp mồi.
Nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn của rùa. Mùa hè rùa thường ăn rất khỏe, lượng thức ăn ăn vào bằng 2% – 5 % khối lượng cơ thể. Còn vào mùa đông từ tháng 12 đến tháng 3, thời tiết lạnh rét thì lượng thức ăn thu nhận vào chỉ bằng 01% - 03% khối lượng của cơ thể; đôi khi thời thiết quá lạnh dưới 15°C, chúng có thể không ăn. Đặc biệt, rùa có khả năng chịu đói rất tốt.
Rùa không có hành vi tấn công kẻ thù; lúc gặp địch chúng chỉ trốn vào trong hang hay lặn xuống nước, chui vào bụi rậm, co rụt đầu lại để lẩn trốn kẻ thù (Nguyễn Hữu Hoàng, Lương Xuân Lâm, 2010 [12]). Quá trình sinh trưởng và phát triển của rùa Rùa là loại động vật có khả năng sinh trưởng rất chậm, quá trình sinh trưởng và phát triển liên quan chặt chẽ đến điều kiện môi trường như: thời tiết, nhiệt độ, chất lượng thức ăn. Nguyễn Hữu Hoàng, Lương Xuân Lâm, (2010) [12] nghiên cứu và cho biết: rùa nuôi trong môi trường nuôi nhốt, một năm chúng chỉ có thể tăng thêm được 100 – 200g/con/ năm. Nếu rùa được nuôi và cho ăn đầy đủ thức ăn, thì khả năng tăng khối lượng có thể tăng lên khoảng 300 g/con/năm.
5 Vào thời điểm tháng 4 - 11 là thời điểm rùa lớn nhanh nhất, vì thời điểm này nhiệt độ môi trường dao động trong khoảng từ 25-28°C, thích hợp cho sự phát triển cũng như giúp cho rùa có khả năng ăn nhiều hơn. Khi nhiệt độ xuống thấp dưới 100C, khả năng thu nhận thức ăn của chúng giảm; dẫn đến rùa sinh trưởng chậm, tăng khối lượng cơ thể ít. Giới tính cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của rùa. Trong cùng điều kiện nuôi dưỡng, thì con đực sẽ lớn nhanh hơn con cái (Nguyễn Hữu Hoàng, Lương Xuân Lâm, 2010 [12]).
Quá trình sinh sản của rùa Hình thức đẻ trứng của rùa: Tất cả các loài rùa thường đẻ trứng ở trên cạn. Rùa đẻ trứng bằng cách bới cát hoặc bùn để vùi trứng trong đó. Tùy theo mỗi loài, số lượng trứng đẻ ra có thể từ 01- 15 quả. Mùa sinh sản của rùa thường vào dịp cuối mùa xuân, đầu mùa thu.
Rùa thường đẻ vào những ngày trời mưa. Đặc biệt rùa đẻ nhiều vào những ngày mưa to, có nhiều sấm chớp. Khi đẻ xong, rùa thường bò xuống ở nơi gần nhất để nghỉ và giữ trứng; nhân dân ta gọi là rùa “ấp bóng”. Vào mùa sinh sản, mỗi rùa mẹ có thể đẻ trung bình 05 ổ trứng, rùa mẹ đẻ sau 5 -7 ngày lại tiếp tục giao phối.
Khi đẻ, trứng được xếp từ đáy lên miệng lỗ, lúc mới đẻ trứng thường dính vào nhau, vỏ hơi mềm. Nhiệt độ thích hợp cho rùa đẻ là từ 25 – 320C. Sau đó, trên 80% số trứng trong mỗi lứa đẻ của rùa nở thành con. Trứng được nở ra nhờ sức nóng của mặt trời, ấp nở thành rùa con.
Rùa con khi vừa nở ra, chúng đã tìm cách bò xuống nước. Một con rùa phải mất từ 10 - 20 năm để tới giai đoạn trưởng thành, nhưng cứ 1000 cá thể rùa mới có một con sống sót đến giai đoạn trưởng thành. Ở ngoài tự nhiên, tỷ lệ sống sót của rùa con từ khi sinh ra đến khi trưởng thành rất thấp, chỉ từ 1% - 10%. Sung và cs (2016) [31], cũng nghiên cứu về rùa Đất lớn và cho biết: rùa Đất lớn bắt đầu đẻ vào tháng 7, tháng 8; mỗi lần đẻ từ 1 – 6 trứng.
Và tác giả 6 đã đem số trứng này thí nghiệm trong ấp nhân tạo và cho thấy ở nhiệt độ 23,30C, ẩm độ 90% – 95% là nhiệt độ thích hợp để ấp trứng rùa, thời gian ấp trứng rùa bằng phương pháp ấp trứng nhân tạo, trung bình là 102 ngày. Đặc biệt loài rùa có thể kéo dài thời gian thụ tinh tới 06 tháng; nên khi cho rùa đẻ, thì tỷ lệ con đực thường ít hơn con cái. Ngoài ra, nhiệt độ môi trường còn quyết định đến giới tính của rùa con, ở nhiệt độ từ 25 – 270C sẽ cho con cái, nhiệt độ cao hơn từ 28 - 32°C sẽ cho con đực. Nếu cao hơn 32°C trứng sẽ bị hỏng (Tim McCormack, 2013) [3 ].
Bởi vậy, các nhà khoa học đã biết cách tận dụng đặc tính này để điều chỉnh số lượng của rùa nở theo giới tính bằng nhiệt độ. * Một số điểm đặc biệt của rùa Rùa có thể thay đổi thân nhiệt khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Thân nhiệt của rùa thay đổi từ từ và thường theo sau nhiệt độ của không khí. Vì vậy rùa được xếp vào loài động vật biến nhiệt.
Chúng thường sống ở đáy sông, đầm hồ, ao; có thể bơi dưới nước hàng giờ, do vùng họng của rùa có nhiều mạch máu. Rùa là loài phàm ăn nhưng chậm lớn. Chúng hô hấp bằng phổi, thích chui vào các hang hốc ở kè bờ đá. Ban đêm yên tĩnh, rùa hay lên bờ; còn ban ngày chúng nhô đầu lên mặt nước để lấy không khí, đôi khi bò lên bờ.
Loài rùa có tính hung dữ như nhiều loài động vật ăn thịt khác, nhưng lại nhút nhát. Khi có tiếng động hay có bóng người và súc vật đi qua, chúng thường lẩn trốn. Khi đói chúng có thể ăn thịt lẫn nhau, có khi một con chảy máu thì các con khác xúm lại cắn xé lẫn nhau. Giá trị khoa học và thực tiễn các loài rùa Hầu hết các loài rùa được sử dụng làm thực phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người, trong đó rùa mai mềm (Trionychidae) được ưa chuộng hơn.
Rùa được sử dụng để làm thuốc, đặc biệt đối với người Trung Quốc và những người chịu ảnh hưởng của quan niệm Trung Quốc. Trứng rùa được dùng chủ 7 yếu làm chất kích dục, máu rùa thì nổi tiếng làm tăng năng lượng và chất đạm, mai rùa được sử dụng làm nhiều loại thuốc khác hoặc làm phụ gia cho việc nấu cao động vật. Rùa được nuôi làm cảnh ở một số nước Châu Âu, Bắc Mỹ và một số nước Châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc. Ngày nay, có một số loài nhờ nuôi làm cảnh mà mở rộng vùng phân bố như rùa Tai đỏ (Trachemys scripta elegans).
Loài này có nguồn gốc ở Châu Mỹ, nhưng đến nay phân bố hầu khắp ở các nơi trên thế giới; hiện nay vẫn chưa ai biết rõ giá trị của loài rùa này. Trong quan niệm của người Việt Nam hàng ngàn đời nay, con rùa mang biểu tượng thần thánh, linh thiêng và đã đi vào những câu chuyện thần thoại. Ảnh hưởng của một số nhân tố môi trường đến sinh trưởng và phát triển của Rùa Nghiên cứu về rùa Đất lớn cho thấy: rùa Đất lớn thường phân bố ở một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, quanh năm ấm áp và có lượng mưa lớn như Campuchia; Lào; Malaysia; Myanma và Thái lan (Hendrie và Bùi Đăng Phan, 2002 [11]). Công trình nghiên cứu về hoạt động trên cạn và sự biến động số lượng quần thể của rùa sống ở nước, đã đưa ra được ảnh hưởng của một số nhân tố môi trường đến các hoạt động của rùa, mà cụ thể là ảnh hưởng của nhân tố nhiệt độ và lượng mưa tới hoạt động kiếm ăn, di chuyển,…là nguyên nhân dẫn đến biến động về số lượng cá thể rùa (Gibbons, 1982 [29]).
Nghiên cứu về nhiệt độ của ổ trứng trong môi trường tự nhiên của 2 loài rùa đầm, có cùng khu vực phân bố là Kinosternon subrubrum và loài Pseudemys floridana đã chứng minh con cái lựa chọn nơi đẻ trứng thích hợp bị chi phối bởi nhiệt độ để có điều kiện thuận lợi cho trứng nở. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nhiệt độ ổ trứng phụ thuộc vào 4 nhân tố là: kết cấu đất, độ dốc mặt đất, độ ẩm mặt đất và lượng nhiệt mặt trời chiếu xuống ổ trứng. Tuy 8 nhiên, trong thực tế có nhiều yếu tố chi phối đến điều kiện để trứng nở, cũng như nơi con cái lựa chọn để đẻ trứng như: thảm mục nơi ổ trứng, độ ẩm, …(Bodie và cs, 1996 [24]).