Chương 1:Những điều kiện cho sự phát triển Phật giáo thời Ngô – Đinh –Tiền Lê và diện mạo của nó. Chương 2: Đặc điểm của Phật giáo thời Ngô – Đinh – Tiền Lê nội dung và ý nghĩa của nó đối với lịch sử Việt Nam thời kỳ này. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO THỜI NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ VÀ DIỆN MẠO CỦA NÓ 1.1 Bối cảnh cho sự phát triển Phật giáo thời kỳ Ngô – Đinh – Tiền Lê 1.1 Điều kiện chính trị - kinh tế xã hội Điều kiện chính trị: Với chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, đã kết thúc gần 1000 năm Bắc thuộc. Đã đánh dấu một bước phát triển mới về chất của lịch sử dân tộc.
Nó chấm dứt giai đoạn đen tối khi mà chính quyền phong kiến phương Bắc dùng mọi thủ đoạn thâm độc để biến nước ta trở thành một quận, một huyện của chúng. Ngay sau khi giành chiến thắng, Ngô Quyền đã biết kế thừa kinh nghiệm từ các thời kỳ Phục Hưng, Khúc Hạo tiếp tục tiến hành công cuộc dựng nước và giữ nước mà ông cha ta đã gây dựng. Ngô Quyền đã thiết lập lên nhà nước tự chủ, đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội. Đồng thời quyết định bỏ chức Tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự xưng Vương (năm 939), tự đặt các chức quan văn, võ, quy định các chế độ lễ nghi trong triều đình… xây dựng một chính quyền quân chủ tập trung, một vương quốc độc lập.
Tuy nhiên, quyền lực của nhà Ngô lúc đó chỉ tập trung ở khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, trung du Bắc Bộ và khu vực đồng bằng và trung du Thanh Nghệ, tức là chủ yếu vẫn trên địa bàn hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân trước đây. Khi Ngô Quyền cho đóng đô ở Cổ Loa, ông muốn dựa vào vị trí định đô cũ vốn có thành cao, hào sâu ở vị trí đầu mối của các luồng giao thông thủy bộ giữa trung tâm miền châu thổ để triều đình trung ương có thể nắm chắc toàn bộ miền châu thổ mà vương ra quản lý toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Thành Cổ Loa được nhân dân Âu Lạc xây dựng không chỉ là kinh đô ở trung tâm đất nước mà còn là căn cứ phòng ngự liên hoàn của cả bộ binh và thủy 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quân với hàng trăm thuyền chiến cơ động hoạt động thông qua hệ thống song Hoàng Giang, sông Cầu, sông Đuống…. Tòa thành Cổ Loa được mệnh danh là tòa thành hùng vĩ, kiên cố, dinh lũy của chính quyền đô hộ.
Chính bởi lẽ đó mà khi vương triều Ngô thành lập, Ngô Quyền đã thừa hưởng một tòa thành như vậy do ông cha đã xây dựng nên không cần tốn quá nhiều công sức xây dựng mới. Hơn nữa, Ngô Quyền đã rút được bài học từ đường lối cai trị “Khoan, giải, an, lạc” của Khúc Hạo và Khúc Thừa Dụ, ông đặc biệt quan tâm, khen thưởng người có công nâng đỡ người dân trong vùng, miễn mọi thứ binh lương, thuế khóa cho dân các làng Gia Viễn, Quang Đàm cùng nhiều làng xã khác. Nhiều vị tướng sau chiến thắng cũng không ngần ngại đem cả gia đình và dòng họ về vùng đất Hải Phòng - vùng quan ải hiểm yếu nhất của đất nước lúc bấy giờ để xây dựng lập quê hương mới. Đó là dòng họ Phạm xã Đằng Giang huyện An Hải - theo truyền thuyết ông tổ dòng họ vốn là người nơi khác theo Ngô Quyền đến đánh trận Bạch Đằng và sau này chiến thắng ông đã mang cả vợ con và tộc thuộc đến đây khai cơ lập nghiệp.
Tuy không có gia phả dòng họ nào ghi chép cụ thể thế thứ ngược lên đến giữa thế kỷ X, nhưng cũng có thể tin truyền thuyết dân gian rằng nhiều dòng họ ở khu vực An Dương, An Hải, Thủy Nguyên vốn có nguồn gốc từ chiến tướng, chiến binh của Ngô Quyền sau khi thắng giặc tự nguyện hoặc được giao trọng trách ở lại vùng đất cửa sông này để giữ gìn bờ cõi. Ngô Quyền trị vì đất nước chưa đầy sáu năm, mà đã để lại ấn tượng rõ rệt về công cuộc dựng nước của ông, đúng như nhà sử học Lê Văn Hưu (1230- 1322) nhận xét: “Chính thống của nước Việt ta, Ngô hầu đã nối lại được”[ 16, tr205]. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên cho rằng: “Tiền Ngô [ Vương ] nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương” [16, tr205]. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi Ngô Quyền mất, các con cháu của ông không đủ uy tín và tài năng để duy trì chính quyền quân chủ tập trung đang còn trong thời kỳ trứng nước thì em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi và xưng là Bình Vương.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Lúc trước, Tiền Ngô Vương bệnh nặng, có di chúc giao cho Tam Kha giúp cho con. Khi Vương mất, Tam Kha cướp ngôi. Con trưởng của Ngô Vương là Xương Ngập sợ, chạy về Nam Sách Giang, trú ngụ ở nhà Phạm Lệnh Côn ở Trà Hương. Tam Kha lấy con thứ hai của Ngô Vương là Xương Văn làm con mình.
Các con thứ của Ngô Vương là Nam Hưng, Càn Hưng còn bé đều theo Dương quốc mẫu. Được ít lâu, Tam Kha sai chỉ huy sứ là Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đem quân đến nhà Phạm Lệnh Côn đòi bắt Xương Ngập, tất cả ba lần đều không thực hiện được mệnh lệnh. Lệnh Côn sợ bèn giấu Xương Ngập trong động núi. Tam Kha biết, lại đòi bắt như trước, rốt cuộc vẫn không bắt được”.
Năm 950 người em là Ngô Xương Văn được sự ủng hộ của các chỉ huy sứ Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi đã nhận việc đi cầm quân đàn áp cuộc nổi dậy ở các thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình ( Hà Tây), quay về kinh đô bắt Dương Tam Kha, và đã giành được chính quyền. Xương Văn tự xưng là Nam Tấn vương, và đón anh trai Ngô Xương Ngập về cùng coi việc nước. Xương Ngập về, tự xưng là Thiên sách vương nắm hết quyền hành. Do vậy mà mâu thuẫn trong nội bộ nhà Ngô lại diễn ra càng tạo điều kiện cho các thổ hào, thứ sử địa phương cát cứ nổi dậy làm loạn, chiêu mộ quân, làm chủ vùng mình trấn trị, tách khỏi quyền lực chính quyền trung ương.
Từ những năm 60 của thế kỷ X đất nước càng rối loạn, Xương Văn nhiều lần mang quân đi đàn áp các cuộc nổi loạn nhưng không có kết quả. Đất nước có nguy cơ bị phân cắt. Sau khi Xương Ngập mất năm 954 và Xương Văn mất năm 965 triều Ngô thực sự không còn tồn tại, đất nước rơi vào thế hỗn loạn, các tướng lĩnh 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiếm giữ các vùng địa phương đánh giết lẫn nhau. Và sử gọi là “loạn mười hai sứ quân”.
Lãnh thổ Việt Nam từ thế kỷ X bao gồm phần đất Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ trên địa bàn tồn tại 12 sứ quân: 1. Kiều Công Hãn tự xưng là Kiều Tam Chế chiếm giữ Phong Châu (Phú Thọ). Nguyễn Khoan tự xưng là Nguyễn Thái Bình chiếm giữ Tam Đái (Phú Thọ) và Yên Lạc ( Vĩnh Phúc). Ngô Nhật Khánh tự xưng là Ngô Lam Công chiếm giữ Đường Lâm (Hà Tây).
Đỗ Cảnh Thạc chiếm giữ vùng Bảo Đà (Thanh Oai – Hà Tây). Ngô Xương Xí con Ngô Xương Ngập chiếm giữ Bình Kiều ( Thanh Hóa). Lý Khuê tự xưng là Lý Lăng Công giữ đất Siêu Loại ( Bắc Ninh). Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công chiếm giữ Tiên Du (Bắc Ninh).
Lữ Đường tự xưng Lữ Tá Công chiếm giữ Tế Giang (Văn Giang – Hưng Yên). Nguyễn Siêu tự xưng là Nguyễn Hữu Công chiếm giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì – Hà Nội). Kiểu Thuận tự xưng là Kiểu Lệnh Công chiếm giữ vùng Cẩm Khuê (Hà Tây). Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át chiếm giữ Đằng Châu (Hưng Yên).
Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công chiếm giữ Bố Hải Khẩu (Thái Bình). 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng trong thời gian này ở Trung Quốc nhà Tống vừa mới thành lập đang bắt đầu mở rộng thế lực xuống phía Nam, đất nước ta đứng trước nguy cơ bị xâm lược. Cũng trong thời gian này ở Ninh Bình nổi lên nhân vật Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924 tại động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, nay thuộc xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Cha Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Công Trứ từng làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, làm Thứ sử châu Hoan, sau tham gia cùng Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng và được Ngô Quyền tin tưởng tiếp tục giao cho chức vụ cũ.
Đinh Bộ Lĩnh từ nhỏ không sống cùng cha mà chỉ sống với mẹ ở quê hương. Và đến khi trưởng thành thì cha sớm lại qua đời. Ông hầu như không gắn bó với triều đình nhà Ngô. Khi Dương Tam Kha cướp ngô Đinh Bộ Lĩnh đã tự xây dựng cho mình một lực lượng riêng, không phục tùng triều đình Cổ Loa và dần dần độc lập với triều đình.
Sau khi Trầm Lãm chết thì lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh tập hợp được coi là lực lượng mạnh mẽ nhất, đã lần lượt dẹp yên các thế lực các cứ, từ đó giang sơn thu về một mối. Sau khi đã dẹp loạn mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, chọn Hoa Lư, Ninh Bình làm đất đóng đô. Kinh đô Hoa Lư chủ yếu nằm ở địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình được bao bọc bởi hệ thống núi đá vôi khá hiểm trở. Nơi đây từ sớm đã là một tụ điểm cư dân đông đúc ở vào vị trí yết hầu trên trục đường Nam – Bắc, rất gần sông và ở thế kỷ X vẫn còn chưa xa biển.
Mạch máu giao thông quan trọng nhất nối thông Hoa Lư với châu thổ sông Hồng và mọi miền đất nước là con đường thủy sông Hoàng Long nối thông với sông Đáy. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kinh thành Hoa Lư bao gồm hai toàn thành riêng biệt, được chia ra thành các khu triều đình, quan lại, quân sĩ và được nối lại với nhau bằng con đường kín đáo là Quèn Vông nơi tiếp giáp giữa núi Hang Sung và Quèn Dót.