phần mở đầu, phần kết luận, luận văn bao gồm ba chƣơng với các nội dung chính nhƣ sau: - Chƣơng I: Cơ sở lí thuyết và tình hình nghiên cứu - Chƣơng II: Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng trong tiếng Anh (có liên hệ với nhóm động từ tƣơng ứng trong tiếng Việt) - Chƣơng III: Đặc điểm ngữ pháp của nhóm động từ nói năng trong tiếng Anh (có liên hệ với nhóm động từ tƣơng ứng trong tiếng Việt) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Phạm trù từ loại 1. Khái niệm Từ loại là một địa hạt quan trọng của ngữ pháp học nói chung và của ngữ pháp tiếng Việt nói riêng. Chúng ta đều biết rằng, mỗi ngôn ngữ đều có một vốn từ vựng rất lớn và dựa vào khối lượng, đặc điểm và chức năng mà các nhà nghiên cứu tiến hành phân loại theo những mục đích khác nhau, ví dụ nhà từ vựng học có thể phân loại từ thành những lớp từ về mặt ngữ nghĩa; hoặc để làm từ điển người ta có thể phân loại từ theo vần chữ cái hoặc theo bộ (Trung Quốc, Nhật); còn nhà ngữ pháp học không phân loại từ theo cách đó mà lại theo bản chất ngữ pháp của từ để cho chúng ta các từ loại như: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, liên từ, giới từ…Vậy từ loại là gì? Thế kỷ IV trước công nguyên, Aristote (nhà triết học cổ Hy Lạp, 384- 322 trước CN) - dựa trên các cơ sở lôgic học, ngữ pháp học- đã phân định từ thành các loại từ nối, danh từ, động từ, tính từ….
Theo Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán [5] thì “Từ loại là một hệ thống có nhiều tầng bậc, hay là một phạm trù bao gồm các phạm trù nhỏ hơn”. Tác giả Đinh Văn Đức [11] cho rằng “Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu”. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, sự phân định từ loại đã được nghiên cứu và đề cập từ rất sớm. Các tác giả có thể dựa vào khả năng kết hợp, ý nghĩa hoặc đặc trưng ngữ pháp để phân định thành các từ loại khác nhau.
Các tiêu chí phân loại này được thể hiện rõ trong phần dưới đây. Tiêu chí phân loại Vấn đề phân định từ loại tiếng Việt đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu về Việt ngữ học. Một số học giả xuất phát từ quan điểm hình thái học phủ nhận sự có mặt của phạm trù từ loại trong tiếng Việt (Grammont & Lê Quang Trinh, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê), bởi theo họ tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn với các ngôn ngữ phương Tây- từ không biến đổi hình thái, nên không có từ loại. Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng trong tiếng Việt có phạm trù từ loại, mặc dù tiêu chí phân định từ loại của họ không hoàn toàn giống nhau.
Các tác giả Lê Văn Lý và Nguyễn Tài Cẩn phân định từ loại dựa vào một tiêu chí đó là “khả năng kết hợp” của từ. Theo họ, khác với ý nghĩa, khả năng kết hợp của từ là một biểu hiện của cú pháp biểu thị mối quan hệ giữa từ với từ trong ngữ lưu. Khả năng kết hợp được hình thức hóa bằng những phương thức ngữ pháp khác nhau ở những ngôn ngữ khác nhau; đối với ngôn ngữ biến đổi hình thái, đó là các hình thái ngữ pháp của từ nhằm diễn đạt các phạm trù ngữ pháp, với các ngôn ngữ đơn lập, trong đó có tiếng Việt, là sự biến đổi trật tự từ và dùng các từ phụ, từ hư. Bởi vì, đối với tiếng Việt- ngôn ngữ đơn lập, bản chất của khả năng kết hợp từ là sự phân bố các vị trí trong những bối cảnh ngữ pháp.
Do đó, mỗi từ loại, căn cứ vào “khả năng kết hợp” với các từ chứng có thể chỉ ra các thuộc tính của nó. Tuy nhiên, ở thời đó cách giải thích của Lê Văn Lý về “khả năng kết hợp” của các từ loại còn hạn chế, sức khái quát hoá và việc lựa chọn danh sách từ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chứng của các từ loại, phần nào còn chưa thật khách quan. Hơn nữa, ông mới chỉ liệt kê các khả năng kết hợp mà chưa chú ý phân biệt đâu là những đặc điểm cơ bản, đâu là những nét tiêu biểu của các khả năng này. Trong chuyên luận “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại” (1960), Nguyễn Tài Cẩn đã đề xuất một hướng đi mới trong việc phân định từ loại, đó là dựa vào khái niệm “đoản ngữ” để mô tả, phân định từ loại và các tiểu loại.
Nhưng về sau này, khi mở rộng nhận định về đặc trưng phân bố của từ, ông đã cho rằng: “Tiêu chuẩn dựa vào đoản ngữ, riêng một mình nó, thì chưa đủ. Phải có cả tiêu chuẩn dựa vào mệnh đề bổ sung thì kết quả mới đáng tin cậy (Nguyễn Tài Cẩn - ngữ pháp Tiếng Việt). Cách nhìn nhận về từ loại tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn là rất mới và có ý nghĩa, quan điểm này đánh dấu một bước tiến mới trong lí luận về từ loại tiếng Việt. Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy nếu chỉ dùng một tiêu chuẩn ý nghĩa khái quát (Nguyễn Lân), khả năng kết hợp của từ (Lê Văn Lý) và dựa vào khái niệm “Đoản ngữ” (Nguyễn Tài Cẩn) như trên thì không thể bao quát và lí giải được mọi hiện tượng ngữ pháp.
Do đó, hiện nay các tác giả (Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Đái Xuân Ninh…) có chủ trương phân định từ loại tiếng Việt dựa vào một tập hợp tiêu chuẩn mà thường nhắc tới ba tiêu chuẩn cơ bản: 1) Ý nghĩa khái quát của các lớp từ (ý nghĩa sự vật của danh từ, ý nghĩa tính chất của tính từ, ý nghĩa hành dộng của động từ…): đây là ý nghĩa chung cho một lớp từ, không có dấu hiệu âm thanh biểu hiện mà chỉ tiềm ẩn trong từ và bộc lộ ra khi được kết hợp với các từ khác. Ví dụ: - từ bàn sẽ được bộc lộ ý nghĩa chỉ vật khi kết hợp với từ này (ở sau):bàn này. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - từ bàn sẽ bộc lộ ý nghĩa chỉ hành động khi kết hợp với từ hãy (ở trước): hãy bàn (việc ấy) 2) Chức vụ của từ khi làm thành phần câu: là cái vị trí của từ trong mối liên hệ ngữ pháp với các từ (hay cụm từ) khác nhau trong câu. Chú ý khi định loại các từ cân nhớ: - Các từ thực (động từ, danh từ, tính từ) thường có thể đảm nhiệm vài ba chức vụ cú pháp trong câu, - Có thể được thực hiện ở bậc khái quát cao hơn: phân biệt từ thực với từ hư 3) Khả năng kết hợp của từ với các từ khác: đây chính là khả năng tiềm ẩn của mỗi từ trong việc kết hợp với các từ khác để bộc lộ tính chất, chức năng của mình.
Có 3 cách thường dùng để xét khả năng kết hợp: dùng từ chứng (từ làm chứng) và dùng cụm từ chính phụ, dùng bậc câu đơn. Ngoài ra, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của nhiều nhà nghiên cứu đi trước (Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức) và vận dụng các thành tựu của ngữ pháp học hiện đại (Halliday, Dik, Cao Xuân Hạo…), với quan niệm coi phân định từ loại là phân chia từ về mặt ngữ pháp, tác giả Nguyễn Hồng Cổn đã đề xuất một hướng phân định từ loại mới dựa trên sự điều chỉnh hai tiêu chuẩn dựa vào "chức vụ cú pháp" (tức là dựa vào khả năng làm các thành phần đối tố và vị tố của mệnh đề) và dựa vào "khả năng kết hợp” (tức là dựa vào khả năng làm thành tố trung tâm hay phụ tố cho các thành phần của mệnh đề). Tuy nhiên, sau khi phân tích và kết hợp các tiêu chuẩn trên, tác giả đưa ra các tiêu chí sau: 1. Khả năng làm (trung tâm của) đối tố hay vị tố; 2.
Khả năng làm thành tố phụ cho đối tố hay vị tố. Kết quả phân loại. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhiều nhà Việt ngữ học (Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Đinh Văn Đức…) đã tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp cả ba loại tiêu chí. Các tác giả một mặt kế thừa quan niệm phân định từ loại truyền thống- dựa vào ý nghĩa khái quát phân chia các từ loại thành hai nhóm: thực từ và hư từ, nhưng mặt khác lại vận dụng các tiêu chuẩn ngữ pháp (khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp) để làm cho hệ thống phân loại khách quan và sáng rõ hơn.
Tuy nhiên, trong khi vận dụng các tiêu chuẩn này để phân định từ loại, các tác giả đã kết hợp chúng một cách tổng hợp chứ không theo một trình tự ưu tiên nào như tác giả Lê Văn Lý (ưu tiên khả năng kết hợp của từ) và Nguyễn Tài Cẩn (dựa vào đoản ngữ). Nguyễn Hồng Cổn [8] dựa vào hai tiêu chí ngữ pháp đã nêu trên, ông đã tiến hành phân định từ loại thành ba nhóm hay ba phạm trù cơ bản như sau: - Nhóm A: gồm các từ có khả năng làm (trung tâm của) đối tố và vị tố trong cấu trúc của mệnh đề. Ví dụ: nhà, sinh viên, nói, chạy. đẹp, nhanh… - Nhóm B: gồm các từ không có khả năng làm (trung tâm của) đối tố và vị tố mà chỉ có khả năng làm thành tố phụ cho chúng.
Ví dụ: đã, đang, sẽ, này, ấy… - Nhóm C: gồm các từ hoàn toàn không có khả năng làm (trung tâm của) đối tố và vị tố, cũng như không có khả năng làm thành tố phụ cho chúng. Ví dụ: và, nhưng, nếu, ôi, à, đi… Dựa vào cách vận dụng các tiêu chuẩn về phân định từ loại và các kết quả tương ứng của mỗi quan niệm trên, chúng tôi lựa chọn cách phân định từ loại của Nguyễn Hồng Cổn làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu của luận văn. Dưới đây là bảng phân loại của hệ thống từ loại tiếng Việt: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.