mở đầu cho văn xuôi thời kì kháng chiến chống Pháp với dấu ấn của nhiều lớp nhà văn do hoàn cảnh lịch sử tạo nên. Đó là những nhà văn tiền chiến theo cách mạng, tham gia kháng chiến và nỗ lực thay đổi cách viết như Nam Cao, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyên Hồng… đó còn là những nhà văn trẻ tài năng, đầy nhiệt huyết như Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Thành Long… mà trong số họ, có những người ban đầu vốn là những người lính. Vũ Bằng không nằm trong những số nhà văn trên bởi ông chọn lựa hoạt động gắn với những môi trường sống thành thị. Nhưng cũng chính ở môi trường này, ông đã có điều kiện khai thác cuộc sống đời thường trong chiến tranh.
Đó cũng là một sự bổ sung cho việc nhận thức đầy đủ hơn về hiện thực hết sức khắc nghiệt này. Nói về vai trò của nhà văn trong xã hội có chiến tranh, nhà văn Pháp Romain Rolland nêu quan điểm: “Số phận của chúng ta đã khiến chúng ta sinh ra giữa cuộc chiến tranh vĩ đại. Nó không cho phép chúng ta tách rời cuộc chiến [106;12]. Vũ Bằng không là nhà văn - chiến sĩ trực tiếp cầm súng tham gia cuộc kháng chiến của dân tộc nhưng ông không tách rời cuộc kháng chiến.
Ở giai đoạn này, Vũ Bằng viết phóng sự Khúc ngâm trong đất Hà. lúc này, ngòi bút của ông không ưu tiên cho những thử nghiệm kĩ thuật tự sự nữa, mà hướng vào hiện thực xã hội với các đề tài: cuộc sống của nhân dân vùng tạm chiếm Hà Nội, 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vấn đề hồi cư và con người hồi cư… viết về hiện thực thời chiến, Vũ Bằng không mô tả sự khốc liệt, dữ dội của đạn bom, máu lửa, chết chóc; không đi sâu mô tả diễn biến của các biến cố mà chủ yếu là phô bày thái độ căm phẫn cùng những ưu tư, trăn trở bằng sự nhận thức về nỗi đau, nỗi bơ vơ của con người trong nhưng hoàn cảnh đặc biệt. Ở phần Tự ngôn tập truyện kí Bát cơm, Vũ Bằng cho biết là ông ghi những điều mà ông đã nhìn thấy và nghe thấy trong thời gian quằn quại trong khói lửa xâm lăng với ước muốn: “Tôi mong gì hơn là đánh dấu lại một thời kì đau khổ của dân ta hai mươi ba, hai mươi bốn năm về trước đây” [47;266]. Trong nhiều tác phẩm, những đau thương, tang tóc của đất nước, đã được Vũ Bằng đề cập và phát biểu khi trực tiếp, khi gián tiếp trong cái nhìn u uất, trong nỗi đau mất nước: Với Vũ Bằng, chiến tranh cắt đứt hạnh phúc, niềm vui, phá vỡ hy vọng, niềm tin và sự sinh sôi nảy nở, chiến tranh gây nên những cảnh chia lìa.
Giai đoạn quân đội Pháp thua hết trận nọ đến trận kia, xã hội bất an, Vũ Bằng vẫn theo dõi tâm trạng, nỗi lòng của quần chúng nhân dân, vẫn nhìn hiện thực bằng cái nhìn đánh giá, khái quát; “Dân tình mỗi ngày một chán nản, một mặt vì rối ren ở trong nước quá nhiều, mặt khác thì kinh tế lại bắt đầu suy sụp dữ… cùng lúc ấy, Mỹ bắt đầu đến Việt Nam” [29;177]. Bị đặt vào một hoàn cảnh lịch sử - xã hội biến động, hoàn toàn khác với giai đoạn trước, Vũ Bằng đã sống và sáng tác với tư cách là một nghệ sĩ yêu nước. Hoạt động văn học của Vũ bằng vẫn tiếp tục và sôi nổi, có những đóng góp tích cực cho văn học. Vũ Bằng đã có nhiều tìm tòi, sáng tạo về đề tài, về nghệ thuật thể hiện.
Và chính những sáng tác về cuộc sống, con người hồi cư mang đậm dấu ấn Vũ Bằng là những mảng đề tài hiếm hoi và độc đáo trong văn học Việt Nam. Mảng đề tài này góp phẩn phản ánh đầy đủ, đa dạng hiện thực cuộc sống những năm 1945-1954. Nó cũng là một minh chứng cho tính lịch sử - xã hội của quan niệm nghệ thuật nói chung và quan niệm nghệ thuật kí nói riêng về cuộc đời nhà văn Vũ Bằng. Và hôm nay nhìn lại, ta càng trân trọng hơn với những gì ông đã đóng góp cho mảng đề tài khá nhạy cảm này để góp phần hoàn thiện bức tranh hiện thực về những năm kháng chiến chống Pháp.
Hiện thực kháng chiến phải được tiếp cận từ nhiều hướng, được đông đảo nhà văn phản ánh nếu thiếu những tác phẩm viết về đề tài hồi cư của Vũ Bằng thì hiện thực ấy là một bức tranh chưa hoàn thiện. Vì thế, có thể nói, vị trí của Vũ Bằng trong văn học hiện đại Việt Nam rất quan trọng và cần thiết. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cuộc sống và hoạt động văn học đô thị miền Nam (1954 - 1975) 1.
Cuộc sống đô thị miền Nam những năm (1954 – 1975) Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève được kí kết, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Cũng trong thời gian này, do chiến dịch tuyên truyền của Pháp và Mỹ, nhiều người dân miền Bắc đã lên tàu di cư vào miền Nam. Vũ Bằng cũng nằm trong số đó. Một ngày đầu tháng 10 -1954, ông quyết định xa Hà Nội, xuống Hải Phòng để vào Nam.
Nhiều bạn bè thân thiết khuyên ông đừng đi. Tô Hoài, Phùng Bảo Thạch viết thư dài khuyên ông ở lại, “có anh giận quá, dùng những lời lẽ không nhẹ nhàng, nhưng hầu hết đều tỏ ra chí tình” [29;196], nhưng không một ai ngăn được ông. Vũ Bằng bước vào cuộc hành trình đã định với mục đích, lí do riêng. Từ đó cho đến mãi sau này, nhiều người nghĩ ông là kẻ phản bội.
Và cũng vì điều này mà vợ con nhà văn ở miền Bắc đã phải chịu bao thiệt thòi cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Nhà giáo Vũ Hoàng Tuấn kể: “Chúng tôi sống trong sự nghi ngờ suốt hai mươi năm trời đằng đẳng” vì mang tiếng có người cha “phản bội tổ quốc”. Bà Nguyễn Thị Qùy âm thầm chịu nỗi đau riêng của người phụ nữ còn xuân sắc mà phải sống xa chồng suốt mười ba năm, biết việc chồng làm nhưng không được phép nói ra sự thật. Ôm nỗi niềm riêng tư, lại bị bệnh lao, bà mất 1967 trong cảnh vợ Bắc chồng Nam.
Số phận lại đặt Vũ Bằng trước những thách thức mới, oan nghiệt mới mà chỉ ông mới thấu hiểu được. Vào Nam, năm 1960, Vũ Bằng lấy người vợ thứ hai là bà Lương Thị Phấn, nhỏ hơn ông hai mươi hai tuổi. Bà Phấn là người Tân Phú, xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Vĩnh Long. Tuy là con gái vùng ruộng đồng, sông nước nhưng bà có vẻ đẹp dịu dàng, thanh thoát, nhẹ nhàng như gái thị thành.
Bà Phấn lên Sài Gòn học may và lo luôn cả việc cơm nước cho Vũ Bằng. Từ lòng thông cảm, họ đã đến với nhau, rồi thành vợ chồng. Bên Vũ Bằng, mạnh mẽ, từng trải, già dặn, bà Phấn hồn nhiên, trong trẻo và có phần yếu đuối. Bà Phấn đã một lần gẫy gánh, về làm vợ Vũ Bằng, bà dắt theo đứa con riêng tên Lê Văn Long lúc này vừa bốn tuổi.
Và cũng như trước kia đã từng nuôi nấng con riêng của người vợ đầu, giờ Vũ Bằng đã chăm sóc dạy dỗ Long như chính con ruột mình. Người con gái đầu lòng của họ ra đời 1961 và sau đó lần lượt thêm năm người con nữa - tổng cộng ba gái, ba trai. Cả Vũ Bằng và vợ đã cũng gồng mình để gánh cả gia đình, lo cho đàn con có được cái ăn, cái mặc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Vũ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bằng viết để chạy bài và viết về những sách về hôn nhân gia đình là vì lý do gia cảnh này.
Từ 1954 - 1975, hơn hai mươi năm sống ở Sài Gòn, Vũ Bằng được công chúng biết đến trong vai trò là một nhà văn, nhà báo tự do, công khai giao du với nhiều thành phần trong xã hội, cộng tác với nhiều cơ quan báo chí, trong đó có Việt tấn xã - cơ quan thông tấn của chính quyền Ngô Đình Diệm. Năm 1969, trong Bốn mươi năm nói láo, ông nói về chuyến vào Nam của mình với cách lý giải rất chung và cũng rất riêng. “… Nhưng Nam, Bắc cũng là đất nước, sao cứ phải coi chuyến đi này là một cuộc di cư mà không là một vụ đi chơi bậy bạ để tiêu sầu khiển ứng?” [29;196]. Có nhà nghiên cứu cho rằng: “Ông luôn công khai tự đấm vào ngực mình, tự sỉ vả, buộc tội mình.
Rõ ràng đây không chỉ là một cách đơn thuần bồi dầy thêm cho cái vỏ bọc ngày càng chắc chắn để che mắt kẻ thù, mà chắc chắn còn là một tâm lý tự vệ có thật của Vũ Bằng trước mọi lời đồn đại” [63;21]. Nhưng chúng tôi không nghĩ như thế. Nếu nói rằng về mặt tâm lý, ông vẫn có khuynh hướng muốn thanh minh, muốn khẳng định phẩm chất chân chính của minh thì hóa ra trong quá trình hoạt động cách mạng, tâm lý ông không yên ổn, tinh thần ông không vững vàng trước thử thách. Nếu thế thì hành động dấn thân của ông là không trọn vẹn.
Vũ Bằng đã chủ động dấn thân vào một hoạt động đầy khó khăn, khắc nghiệt, tự nguyện hy sinh cả vật chất lẫn tinh thần. Không có lẽ sau hai mươi năm, ông lại sợ bị hiểu nhầm! Tác phẩm Thư cho người mất tích (1950) đã được viết trong lập trường nhà văn ở thành vẫn ủng hộ kháng chiến, tin vào phong trào giải phóng dân tộc. TheoTạ Tỵ, Vũ Bằng thường nói với ông là “ước mong viết một quyển truyện dài Trường giang nói về chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ lúc ta đánh Pháp đề là “Xóm Mả Đỏ”, câu chuyện lồng trong một gia đình di cư giữa bối cảnh lịch sử đấu tranh mấy chục năm trời của toàn dân Việt Nam” [115;119]. Vì vậy, theo chúng tôi, đã bao nhiêu năm qua, Vũ Bằng im lặng, không thanh minh thì giờ không có lý do gì lại sỉ vả mình, vì như thế cũng là một cách gián tiếp phủ nhận nhiệm vụ mình đang làm.
Và nếu cho rằng đó cũng là cách tạo vỏ bọc thì điều này không cần thiết, bởi Vũ Bằng đã có mối quan hệ với chính khách làm bằng. Theo người bạn thân thiết của Vũ Bằng là Hồ Nam, những ngày cuối đời, Vũ Bằng đã giải thích cho ông và Tam Lang nghe lý do vì sao Vũ Bằng giao du với Mai Đen (đại tá Thanh Tùng) - người một thời làm giám đốc Trung ương tình báo của tướng Nguyễn Cao Kỳ. Vũ Bằng thổ lộ “cái 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thứ tình báo tôi làm là thứ tình báo chiến lược nên phải tiếp cận cỡ Mai Đen mới “moi” được tin tức.