Chương 1. Cơ sở lý thuyết Chương 2. Hành vi xin trong giao tiếp tiếng Việt Chương 3. Yếu tố ngữ dụng liên quan đến hành vi xin trong giao tiếp tiếng Việt e 6 Chƣơng 1.
Lý thuyết hội thoại 1. Khái niệm hội thoại Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời, và trong đời sống, mỗi chúng ta có rất nhiều thông tin cần trao đổi với nhau. Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con ngƣời đó là hội thoại. Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi lại, lúc này vai trò của hai bên thay đổi.
Hội thoại gồm hai bên là song thoại, có thể là ba bên gọi là tam thoại, nhiều bên thì gọi là đa thoại. Song dạng thoại cơ bản nhất vẫn là song thoại. Giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết, tuy nhiên giao tiếp dạng nói là hình thức giao tiếp phổ biến hơn cả. Đầu tiên, hội thoại đƣợc Xã hội học, Xã hội ngôn ngữ học, Dân tộc ngôn ngữ học Mĩ nghiên cứu.
Từ 1970 nó là đối tƣợng chính thức của một phân ngành ngôn ngữ học Mĩ, phân ngành phân tích hội thoại (conversation analysis). Sau đó phân tích hội thoại đƣợc tiếp nhận ở Anh với tên gọi phân tích diễn ngôn (discourse analysis), ở Pháp (khoảng 1980) và ở các nƣớc thuộc cựu lục đia. Cho đến nay thì ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bàn đến hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên của ngôn ngữ, là hoạt động cơ bản phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ.
Bên cạnh đó nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3, tr. Chính vì có vai trò quan trọng nhƣ vậy nên hội thoại là vấn đề đƣợc Ngữ dụng học đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu các đặc điểm của hành vi xin trong tiếng Việt. Do đó, việc nghiên cứu các hành vi xin phải đƣợc đặt trong một cấu trúc hội thoại, tức là phải có nhân vật tham gia trong một cuộc thoại, ngƣời nói thực hiện hành vi xin và ngƣời nghe đáp trả lại.
Nói đến mục đích của hội thoại cũng là nói đến những đặc tính và nội dung của cuộc hội thoại: Có những cuộc hội thoại ngẫu hứng tự do và những cuộc hội thoại đƣợc định hƣớng trƣớc về nội dung, có những cuộc hội thoại có e 7 nội dung nghiêm túc và những cuộc hội thoại nói những chuyện “tào lao”, có những cuộc hội thoại nói đến những nỗi niềm riêng tƣ và những cuộc hội thoại bàn về những vấn đề chung của một quốc gia, một xã hội, một tổ chức, một đơn vị nào đó,. Những cuộc hội thoại nhƣ thƣơng thuyết, ngoại giao, hội thảo khoa học có đích đƣợc xác định một cách rõ ràng, trong khi các cuộc chuyện trò tán gẫu thƣờng không có đích (hay nói cách khác là có đích song chỉ là đích giải trí). Còn các cuộc hội nghị, đại hội, các cuộc thƣơng thảo là những hội thoại mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng, mang tính chất nghi lễ. Ngƣợc lại, những cuộc chuyện trò đời thƣờng không cần một nghi lễ nào cả.
Lý thuyết hội thoại bao gồm nhiều vấn đề, tuy nhiên dƣới góc độ của một luận văn nên chúng tôi chỉ trình bày một số vấn đề lý thuyết hội thoại có liên quan trong quá trình triển khai đề tài. Yếu tố nội tại trong cấu trúc hội thoại Hội thoại cũng có cấu trúc tôn ti tƣơng tự nhƣ một đơn vị cú pháp. Các đơn vị của cấu trúc hội thoại là: - Cuộc thoại (cuộc tƣơng tác): là đơn vị lớn nhất bao trùm, tính từ khi các thoại nhân gặp nhau, khởi đầu nói cho đến lúc chấm dứt. Hay cuộc thoại là một lần trao đổi, nói chuyện giữa cá nhân trong hoàn cảnh xã hội nào đó.
Để xác định một cuộc thoại, cần phải có một số yếu tố nhƣ: Sự thống nhất về nhân vật hội thoại: cuộc thoại đƣợc xác định bởi sự gặp mặt và sự chia tay của những ngƣời tham gia hội thoại. Khi những ngƣời tham gia hội thoại thay đổi thì cuộc thoại cũng có sự thay đổi. Sự thống nhất về môi trƣờng hội thoại nhƣ: địa điểm, thời gian. Sự thống nhất về đề tài diễn ngôn: một cuộc thoại, theo Grice phải theo một hƣớng nhất định từ đầu cho đến khi kết thúc.
Ngoài ra cuộc thoại còn đƣợc đánh dấu bằng các dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại nhƣ: tuyên bố, khai mạc, bế mạc,. Tuy nhiên cho đến nay, việc định ranh giới cuộc thoại bằng những tiêu chí trên vẫn chƣa dứt khoát và thống nhất. e 8 Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại bao gồm: đoạn mở thoại – đoạn thân thoại - đoạn thoại kết thúc. Trong đó, đoạn mở và kết thoại có cấu trúc tƣơng đối ổn định, dễ nhận ra hơn các đoạn thoại tạo nên thân thoại.
- Đoạn thoại: là một đoạn của cuộc thoại do một hoặc một số cặp thoại liên kết với nhau về đề tài và về đích có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng các đoạn thoại khác làm cho cuộc thoại thành công (đạt đƣợc đích). Cũng có thể nói một đoạn thoại là một lập luận bộ phận (có kết luận tƣờng minh hoặc hàm ấn) góp phần vào lập luận chung của cuộc thoại. - Cặp thoại: Cặp thoại là đơn vị cơ sở của hội thoại, cặp thoại đƣợc tạo nên từ các tham thoại. Mỗi cặp thoại thƣờng gồm hai tham thoại, dẫn nhập và hồi đáp.
Đôi khi chúng ta vẫn gặp những cặp thoại gồm một tham thoại hoặc ba tham thoại. Có các loại cặp thoại nhƣ: Cặp thoại tối thiểu, cặp thoại một tham thoại, cặp thoại chủ hƣớng, cặp thoại phụ thuộc. Cặp thoại tối thiểu tƣơng đƣơng với sự kiện lời nói tối thiểu, tức là tối thiểu cặp thoại phải là một cặp kế cận với hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp. Ví dụ: (1) Sp1: Nam ơi, cậu làm bài tập chưa? Sp2: Tớ làm xong rồi! Sp1: Cậu lúc nào cũng chăm chỉ! [DCT] Cặp thoại một tham thoại xảy ra khi: Ngƣời nghe thực hiện một hành động vật lý (gật đầu, lắc đầu, xua tay.) thay cho hành động ngôn ngữ.
Ngƣời nghe im lặng không có hành động gì cả. Ví dụ: (2) Sp1: Cậu làm bài tập chưa? Sp2: (Gật đầu) [DCT] - Tham thoại: là phần đóng góp của một thoại nhân vào một cặp thoại. Theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu (2007), “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định và một lượt lời có thể vẫn nhiều tham thoại này cũng có thể nhỏ hơn tham thoại” [3, tr. Về tổ chức nội tại, tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên.
e 9 Một tham thoại có một hành vi chủ hƣớng (hành động quyết định đích của tham thoại, cùng với hành động chủ hƣớng của tham thoại kia trong cặp thoại lập thành một cặp kế cận) và có thể có hành vi phụ thuộc (làm rõ lý do hoặc bổ sung nghĩa cho hành động chủ hƣớng). Hành động chủ hƣớng của một tham thoại hoặc đòi hỏi hành động chủ hƣớng của tham thoại kia trong cặp thoại hồi đáp hoặc hồi đáp cho hành động chủ hƣớng của tham thoại ấy, Không nên đồng nhất lƣợt lời và tham thoại. Lƣợt lời có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn một tham thoại. Ví dụ: (3) Sp1: Chào cậu! Sp2: Chào! Sp1: Thế nào? Dạo này vẫn khoẻ chứ? Sp2: Cảm ơn! Tớ vẫn khoẻ! Thế còn cậu? Sp1: Cảm ơn! Tớ cũng thế! Đi đâu mà ăn mặc lịch sự thế? Sp2: À! Mình đi họp lớp.
[DCT] - Lượt lời: Chuỗi những đơn vị ngôn ngữ đƣợc nhân vật hội thoại nói ra trong một cuộc thoại đƣợc gọi là một lƣợt lời. Hay lƣợt lời là phần lời của mỗi ngƣời nói trong một lần, một lần nói xong của một ngƣời trong khi những ngƣời khác không nói, để rồi đến lƣợt một ngƣời tiếp theo sẽ nói. Nếu có nhiều ngƣời cùng nói một lúc thì đó không đƣợc coi là lƣợt lời, ngoại trừ các hành vi hô gọi, thề nguyền. Trong các lễ nghi mang tính tập thể.
Do mỗi lƣợt lời đƣợc xây dựng trên cơ sở lƣợt lời trƣớc đó nên ta có sự luân phiên lƣợt lời trong cấu trúc hội thoại. Cơ chế hoạt động của chúng chính là sự trao lời và tranh lời. Trao lời là vận động mà vai nói (Sp1) nói lƣợt lời của mình ra và hƣớng lƣợt lời của mình về phía vai nghe (Sp2) nhằm làm cho ngƣời đó biết rằng lƣợt lời đƣợc nói ra đó là dành cho họ. Trái với trao lời chính là tranh lời hay ngắt lời, đó là những lời nói xen ngang vào lƣợt lời của ngƣời đang nói.
Trong quá trình hội thoại, chúng ta cũng cần lƣu ý đến những tín hiệu điều chỉnh lƣợt lời bởi ngƣời nghe không đơn thuần là ngƣời đứng ngoài hội thoại. Họ có thể không tham gia trực tiếp vào cuộc thoại nhƣng lại đóng vai trò “khán giả”, “công chúng”, đôi khi là “giám khảo”, thái độ và phản ứng của họ là e 10 những điều khiển ngƣợc đến quá trình hội thoại, có vai trò đáng kể trong việc khuyến khích lƣợt lời tiếp tục hay chuyển hƣớng, hoặc dừng lại. Những phản ứng này thể hiện bằng cử chỉ nét mặt, hành động (la ó, huýt sáo, hò reo, vỗ tay. Những thái độ và cách thức phản ứng này phụ thuộc vào từng ngôn ngữ và nền văn hóa.
Ví dụ: (4) Sp1: Cậu đi đâu mà trông có vẻ vội vàng thế? Sp2: Mình đang vội đến lớp học thêm, thế hôm nay cậu không học à? [DCT] Ở lƣợt lời Sp2 có hai tham thoại, một tham thoại trả lời và một tham thoại có tính chất dẫn nhập mở ra một tham thoại khác. Chẳng hạn: (5) Sp1: Hôm nay tổ mấy trực nhật lớp? Sp2: Tổ 3. [DCT] Ở cặp thoại trên, mỗi tham thoại nằm trong một lƣợt lời và chỉ gồm một hành vi là hỏi và trả lời. Nhƣ vậy, tham thoại trùng khớp với lƣợt lời và hành vi.
Sự kiện lời nói Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự kiện lời nói. Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm một sự kiện lời nói là một hoạt động, trong đó có những ngƣời tham gia giao tiếp dùng những hành động ở lời tác động lẫn nhau nhằm đạt đƣợc mục đích nào đó. Một sự kiện lời nói đƣợc tạo ra bởi một cặp thoại trung tâm, trong cặp thoại đó đích của hành động ở lời dẫn nhập quyết định đích của hành động lời nói chứa nó. Tên gọi của hành động ở lời dẫn nhập của cặp thoại trung tâm cũng là tên gọi của sự kiện lời nói đó.