Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN 1. Định nghĩa địa danh Bắt cứ một quốc gia nảo trên thế giới đều có những điểm riêng biệt về địa lí, lịch sử của nước mình. Mỗi nước có hệ thống tên gọi riêng về tên người, địa lí,. đặc biệt về tên gọi địa lí (còn gọi là địa danh) thì hoàn toàn khác biệt, bởi mỗi nước, mỗi vùng có những cách đặt tên mang tính đặc trưng.
Vì vậy, địa danh rất phong phú và đa dạng. Địa danh nằm trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ, mả ngôn ngữ xét đến cùng là một bộ thói quen của cộng đồng nhất định. Tên riêng nói chung, địa danh nói riêng ra đời đều gắn với lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của một cộng đồng. Địa danh cũng như các sản phẩm ngôn ngữ khác, chịu sự tác động chỉ phối của các quy luật ngôn ngữ về ngữ âm, từ vừng, ngữ nghĩa và ngữ pháp.
Địa danh - Toponima hay Toponoma được dịch là "tên gọi vị trí" là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Tuy nhiên, lí giải một cách đầy đủ và chính xác khái niệm địa danh là gì không hề đơn giản. Nếu hiểu theo lối chiết tự thì "địa danh" là tên đất. Cách hiểu này mang tính bó hẹp phạm vi của địa danh.
Bởi địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí gắn với từng vùng đất cụ thể mà còn có thể là tên gọi đối tượng địa lí cư trú sinh sống (địa danh. hành chính), hay các công trình do con người xây dựng (địa danh nhân tạo), hoặc đối tượng địa hình thiên nhiên (địa danh thiên nhiên). Địa danh nói riêng và từ nói chung đều nằm trong kho từ vựng của một ngôn ngữ. Vì thé, nó được sử dụng và chịu sự tác động của các quy tắc ngôn ngữ về các mặt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa.
Hiện nay trong giới nghiên cứu địa danh vẫn chưa có sự thống nhất nhau về khái niệm địa danh. Địa danh được giải thích một cách dễ hiểu và ngắn gọn nhất trong hai cuốn từ đi " điển Hán Việt và Từ điển tiếng Việt. Trong cuốn Từ điển Hán Việt, Đào. Duy Anh giải thích "Địa danh là tên gọi các miền đất", còn trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên lại coi "Địa danh là tên đất, tên địa phương".
Gần với cách hiểu này, Nguyễn Văn Âu cũng quan niệm địa danh là "tên gọi các địa phương hay tên gọi địa lí" [3]. "Địa danh học - đó là một chuyên ngành của ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu về lịch sử hình thành, thay đổi và chức năng của các tên gọi địa lí. Thành tố lịch sử trong địa danh. học là bắt buộc” [3] Có nhiều định nghĩa khác về địa danh, có thé chia lam hai quan điểm.
Quan điểm thứ nhất nghiêng về nghiên cứu địa danh gắn với dja li - văn hoá. Nguyễn Văn Âu đại diện cho quan điểm này cho rằng: "Địa danh là tên đắt, gồm tên sông, núi, làng mạc. hay là tên các địa phương, các dân tộc" [3; 15]. Quan điểm thứ hai nghiêng về nghiên cứu địa danh theo góc độ ngôn ngữ học.
Đại diện cho quan điểm này là Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai, Pham Xuân Đạm. Lê Trung Hoa quan niệm: "Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ" [6; 15]. Nguyễn Kiên Trường cũng khẳng định: "Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [17; 16]. Tir Thu Mai cho ring: "Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [14; 21].
Phạm Xuân Đạm đưa ra định nghĩa về địa danh và địa danh học như sau: "Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt được định ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn. Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu hệ thống địa danh về các mặt: nguồn gốc, cấu trúc, ý nghĩa, sự chuyển hoá, biển đổi, các phương thức định danh” [4; 12]. 12 Nhu vay, trừ định nghĩa của Nguyễn Văn Âu, các định nghĩa còn lại đều nêu rất cụ thể về những vấn đề liên quan đến địa danh. Tuy nhiên mỗi định nghĩa vẫn có nét riêng.
Định nghĩa địa danh của Phạm Xuân Đạm vừa mang tính kế thừa những người đi trước vừa có tính tiến bộ khi nhắn mạnh hơn vào. chức năng và đối tượng của địa danh. Lê Trung Hoa mặc dù đã gắn địa danh với ngôn ngữ nhưng thiên vẻ tính lí thuyết và việc chỉ ra phạm vi của định nghĩa, cách phân loại các địa danh. Còn Nguyễn Kiên Trường, trong định nghĩa của mình đã nêu giới hạn phạm vi của địa danh ".có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [17].
Cũng giống như Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường chia địa danh thành từng loại nhỏ, ngoài ra, ông còn tiến hành phân loại theo nguồn sốc, chức năng của địa danh. Từ Thu Mai khẳng định, khi phân tích định nghĩa địa danh cần chú ý đến những vấn đề nội tại trong bản thân định nghĩa. Trong bốn định nghĩa nằm trong quan điểm thứ hai, theo chúng tôi, định nghĩa của Phạm Xuân Đạm là chuẩn xác hơn cả bởi định nghĩa này nhắn mạnh đủ các đối tượng và đặc điểm chức năng của địa danh. Chính vì thế, chúng tôi hiểu địa danh theo quan niệm của Phạm Xuân Đạm và trong quá trình nghiên cứu địa danh Cà Mau, chúng tôi cũng đi theo hướng này.
Qua tit cả những điều đã trình bày ở trên, chúng tôi hiểu địa danh như sau: “Địa danh. là từ hoặc cụm từ dùng để đặt tên cho các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn. Địa danh thường gần gũi với con người, thực vật, động vật”. Phân loại địa danh Phân loại địa danh là một vấn đề phức tạp.
Sự phức tạp ấy xuất hiện từ nguyên nhân khách quan, nằm ngay trong bản thân địa danh. Với một tập hợp vô vàn các địa danh với rất nhiều các loại hình địa danh tồn tại trên thực tế trong việc phân loại sắp xếp các địa danh vào từng bộ phận, từng chủng loại. Sự phức tạp ấy còn xuất hiện từ nguyên nhân chủ quan, là các quan niệm, các hướng tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu về địa danh. 3 Vấn đề viết hoa địa danh Hiện nay, trên các tài liệu sách báo toàn quốc, nhìn chung cách viết địa danh Việt Nam tương đối thống nhất theo nguyên tắc: viết hoa tất cả các thành tố và không gạch nối, ví dụ: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng,.
(trừ các địa danh gốc phương Tây được phiên âm, như Pa-ri, Mat-xcơ-va,, 'Tuy nhiên, vẫn còn một số địa danh Việt Nam còn được viết theo nhiều cách khác nhau. Cùng một đối tượng nhưng có người viết thành phi Chí Minh, rach CI „ cầu Bông, phường 2,. : nhưng cũng có người viết Thành phố Hồ Chí Minh, Rạch Chiếc, Cau Bông, Phường 2 Không viết hoa các danh từ chung đặt ở trước địa danh khi địa danh ấy dùng để gọi tên ~ Địa hình thiên nhiên: lung Tràm, rạch Ráng, kênh Thảy Tư. ~ Công trình xây dựng: cầu Công Nghiệp, chợ Năm Căn.
~ Đơn vị hành chính: ấp Tân Phú, xã Khánh Hải. ~ Địa danh vùng: xóm Chùa, xóm Rẫy,. Viết hoa các danh từ chung khi có sự chuyển đổi nó thành một yếu tố của địa danh Ví dụ: kinh Lung Tràm (tên kinh) - cầu Kinh Lung Tràm (tên cầu) phường Hai (tên phường) - chợ Phường Hai (tên chợ) Đối với những danh từ chung gồm 2 yếu tố như: ngã ba, thị trắn, kinh xáng,. khi trở thành một thành tố của địa danh, để đơn giản, ta chỉ viết hoa yếu tổ đầu: ‘Vi du: ng nam Thư Viện (tên ngã năm) - khu Ngã năm Thư Viện (tên vùng) 14 'Viết hoa các yếu tố có tác dụng phân biệt đi kẻm sau địa danh Ví dụ: Khánh Bình Đông, ấp Năm A, ấp Năm B, rach Ganh Hào Lớn.
Như vậy, chỉ những yếu tố được viết hoa mới là thành tố của địa danh (trừ những yếu tố đứng sau các danh từ chung gồm 2 yếu tố như tư trong Ngã tư, xáng trong Kinh xáng. Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu chia địa danh thành 2 loại: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội với 7 kiểu: thuỷ danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tinh, thành phó, quốc gia và 12 dạng: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông - trảng, làng - xã, huyện - quận, thị trần, tỉnh, thành phố, quốc gia. Cách phân loại này của tác giả dễ thống kê, phân loại nhưng hơi tỉ mi, chỉ tiết, tính khái quát chưa cao. Lê Trung Hoa phân loại địa danh dựa theo hai tiêu chí: tự nhiên và không tự nhiên.
Trong địa danh không tự nhiên (địa danh nhân tạo) tác giả lại chia thành ba loại nhỏ: Địa danh chỉ các công trình xây dựng; Địa danh chỉ các đơn vị hành chính; Địa danh chỉ các vùng. Cách chia này khá hợp lí và khoa học bởi một phần do tác giả đã căn cứ vào nguồn gốc đẻ phân loại địa danh. Trên cơ sở kể thừa quan điểm của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đồng ý với cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa, chia địa danh Cả Mau thành 4 loại chính: ~ Địa danh chỉ địa hình tự nhiên: là những địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên, là tên những con sông, rạch, bảu, gỏ, vàm. ~ Địa danh hành chính: là những địa danh chỉ các đơn vị hành chính có biên giới rõ rằng, có diện tích, nhân khẩu, có người đứng đầu và chịu sự quản lí của Nhà nước, bao gồm tên tỉnh, huyện, xã, phường, thị trắn, ấp, khóm.
15 ~ Địa danh chỉ công trình xây dựng: là địa danh chỉ các công trình do con người xây dựng, bao gồm các tên cầu, cống, đường, chợ, công viên. ~ Địa danh vùng: là địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ rằng, có thê là tên xóm, tên vùng, tên khu vực nằm trong làng xã hay địa phương lớn hơn. Cơ sở thực tiễn 1. Vài nét về lịch sử và địa giới hành chính tỉnh Cà Mau Cả Mau từ khi khai hoang đến nay, là mảnh đất tận cùng của tổ quốc với 3 mặt tiếp giáp với biển: Phía Đông giáp với biển Đông, Phái Tây và phía Nam giáp với Vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp với hai tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang.
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.