CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC 1. Khái quát chung về định danh ngôn ngữ Hiện nay định danh (nomination) là một thuật ngữ thường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo quan niệm của G.Cônsansky, định danh được hiểu là: "Sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ”. Đồng thời, ông cũng cho rằng: “Bất kì kí hiệu ngôn ngữ nào cũng biểu thị những thuộc tính đã được trừu tượng hoá của các sự vật cụ thể, và do vậy, bao giờ cũng gắn với một lớp đối tượng hay một loạt hiện tượng…” (dẫn theo[33, tr.
Như vậy, định danh được hiểu một cách đơn giản chính là cách đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng nào đó. Trong "Đặc trưng văn hóa-dân tộc của ngôn ngữ và tư duy", tác giả Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra quy trình định danh một sự vật, hiện tượng như sau: - Quy loại đối tượng mới vào loại đối tượng đã có tên trong ngôn ngữ. - Để định danh một sự vật, hiện tượng, con người sau khi tiếp xúc với khách thể mới, vạch ra một bộ những đặc trưng nào đó có trong nó thì chỉ chọn đặc trưng nào là tiêu biểu, dễ khu biệt với đối tượng khác và đặc trưng ấy đã có tên gọi trong ngôn ngữ. Theo tác giả “khi định danh một sự vật, không có gì lý tưởng hơn là chọn ra được đặc trưng nào đó thuộc đặc trưng bản chất của sự vật để làm cơ sở gọi tên nó” [33, tr.194] 12 - Sử dụng biện pháp cấu tạo từ nào đó.
Ví dụ: Để gọi tên loài cây cảnh cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép có gai, hoa màu hồng…, có hương thơm. Trước hết, dựa vào các đặc trưng đã được tách ra như trên, người Việt quy nó vào khái niệm đã có tên gọi trong ngôn ngữ là “hoa”, và cả đặc trưng màu sắc cũng đã có tên gọi là “hồng”. Tiếp đó, người ta dùng biện pháp cấu tạo từ của tiếng Việt theo cách ghép tên chỉ đặc trưng “hồng” vào tên gọi chỉ loại là “hoa” để tạo ra tên gọi cho đối tượng này. Khi đó, loài cây này sẽ có tên gọi là “hoa hồng”.
Sau đó, tuỳ màu hoa cụ thể mà có các tên gọi mới cho từng tiểu loại trong loài hoa hồng này, chẳng hạn, hoa hồng bạch, hoa hồng nhung.192] Như vậy, theo quy trình trên định danh về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan của các dân tộc, các địa phương có sự khác biệt. Mà sự khác biệt này thể hiện rất rõ dấu ấn văn hóa và tư duy của các dân tộc. Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, chúng khác nhau ở ba điểm sau: Một là, đặc điểm của định danh ngôn ngữ được thể hiện ở cách quy loại khái niệm của đối tượng được định danh. Chẳng hạn, tên gọi “củ lạc” thực chất là “quả lạc” nếu xét theo thực vật học, nhưng theo tư duy ngôn ngữ và sự hiểu biết của người Việt thì phàm những bộ phận nào của cây chứa chất bột, phình to, nằm ở dưới đất hay trong lòng đất thì đều được quy vào khái niệm củ.
Do đó ta không gọi quả lạc mà gọi là củ lạc. Hai là việc lựa chọn đặc trưng của đối tượng để làm cơ sở cho tên gọi của nó. Các đặc trưng này có thể rất khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau và thậm chí đặc trưng được chọn có thể là đặc trưng cơ bản thuộc bản 13 chất của sự vật, mà cũng có thể là thuộc tính không căn bản, miễn sao đặc trưng được chọn có giá trị khu biệt sự việc ấy với sự việc khác. Ví dụ: Khi định danh các loại bánh, đặc trưng nguyên liệu là quan trọng.
Chẳng hạn: gạo nếp - gạo tẻ, từ đó có bánh nếp - bánh tẻ, song trong thực tế, các tiểu loại bánh đều làm bằng gạo nếp, những đặc trưng khác tưởng như không cơ bản như lá gai, lá mật…lại trở thành cơ bản khi định danh chúng (ví dụ: bánh nếp, bánh gai, bánh nếp mật. Đến đây, chúng ta thấy rằng đặc trưng văn hóa - dân tộc được bộc lộ rất rõ trong việc chọn đặc trưng làm cơ sở cho tên gọi. "Đặc trưng này phụ thuộc không phải vào cách thức trừu tượng hóa, mà vào những điều kiện thực tiễn cụ thể (quá trình lao động, văn hóa, truyền thống, hoàn cảnh địa lý).” (dẫn theo [32, tr. Như vậy, việc lựa chọn đặc trưng của đối tượng định danh mang dấu ấn đặc trưng văn hóa dân tộc rất rõ.
Điều này rất dễ hiểu vì tư duy của mỗi dân tộc một khác nhau: "Một dân tộc này phát hiện ra đặc trưng, chẳng hạn hình thức, còn dân tộc kia lại nhận thấy đặc trưng khác, thí dụ như chức năng. Do vậy, đặc trưng được chọn sẽ khác nhau, và đối tượng sẽ có tên gọi khác không như nhau. Đó không phải là sự liên tưởng ngẫu nhiên mà có lí do của nó. Lí do chọn đặc trưng này chứ không phải đặc trưng khác phụ thuộc vào thiên hướng quan sát của chủ thể định danh”.
Đặc trưng văn hóa - dân tộc của định danh ngôn ngữ còn được biểu lộ rõ ràng hơn cả ở những liên tưởng trong việc tạo tên gọi các hiện tượng đặc trưng trong một ngôn ngữ khó có thể dịch sang được ngôn ngữ khác kiểu: tóc rễ tre, râu quan nón, chân bàn cuốc. 14 Ba là vấn đề "kĩ thuật ngôn ngữ" cũng là biểu hiện của đặc trưng định danh ngôn ngữ để cấu tạo các tên gọi. Nguyễn Đức Tồn đã dẫn ý kiến của B. Sereprennhicôp về những cách định danh ngôn ngữ để cấu tạo các tên gọi như sau: 1) Sử dụng tổ hợp ngữ âm biểu thị đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng của đối tượng này; 2) Mô phỏng âm thanh (tức là tượng thanh); 3) Phái sinh; 4) Ghép từ; 5) Cấu tạo các biểu ngữ đặc ngữ; 6) Can ke (hay sao phỏng); 7) Vay mượn.
Đặc biệt, tác giả đã bổ sung thêm một phương thức định danh phổ biến nữa là sự chuyển nghĩa của từ. Đây là cách định danh thường được gọi là định danh thứ sinh (hay là thứ cấp). 264-265] Sự khác biệt giữa các ngôn ngữ ở ba đặc điểm trên mà tác giả đã chỉ ra là cở sở khoa học để chúng tôi tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa trong hệ thống định danh của Thủy Nguyên. Cơ sở lý thuyết về địa danh 1.
Định nghĩa về địa danh Khái niệm về địa danh được nói nhiều trong các công trình nghiên cứu và cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Nói đến địa danh, người ta thường hiểu là chỉ tên gọi của các vị trí địa lí tồn tại trên trái đất, gắn với những vùng 15 đất cụ thể. Nếu hiểu theo lối chiết tự thì “địa danh” được hiểu là tên đất. Thế nhưng, khái niệm này cần phải được hiểu rộng hơn.
Ở Việt Nam, khái niệm địa danh được Nguyễn Văn Âu đưa ra từ cách dịch tiếng Hi Lạp: “Thuật ngữ địa danh xuất phát từ tiếng Hi Lạp: Topos (là địa phương) và Onoma (là tên gọi). Do đó có thể định nghĩa địa danh học (Toponymic) là môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lí các địa phương” [3, tr. Lê Trung Hoa quan niệm "Địa danh là những từ ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều" [17, tr. Trong luận án "Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng.
Sơ bộ so sánh với một số vùng khác" của Nguyễn Kiên Trường thì địa danh được hiểu là: “tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [34, tr. Trong khi thống kê về các địa danh Hải Phòng, tác giả đã thống kê cả các công trình như bệnh viện, nhà máy, trường học, chùa, đền.Theo chúng tôi, các địa danh này thường thiên về không gian ba chiều chứ không phải không gian hai chiều. Trong cuốn “Địa danh là gì” A.V Superanskaja đã cho rằng: “Những địa điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi. Khác với những vật thể thông thường, những mục tiêu địa lí có hai loại tên: Tên chung để xếp chúng vào hệ thống cả khái niệm 16 nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [2, tr.
Theo đó, ông đã đưa ra định nghĩa: “Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [2, tr. Mỗi ngọn núi, con sông, làng xóm.đều gắn với mỗi một tên cụ thể. Trong khi chỉ ra các đặc điểm định danh, các nhà ngôn ngữ đã cho rằng những tên gọi này thường có lí do và có thể giải thích được. Địa danh phải có chức năng gọi tên, khu biệt đối tượng và cá thể hóa.
Đối tượng được gọi tên là đối tượng địa lý tồn tại trên trái đất. Như vậy, có thể hiểu địa danh theo quan niệm của A.V Superanskaja: “Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí (địa hình tự nhiên, các đơn vị dân cư và các công trình nhân tạo thiên về không gian hai chiều) có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”. Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của luận văn là tất cả những từ ngữ dùng làm tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên địa bàn Thủy Nguyên (Hải Phòng). Phân loại địa danh Đã có nhiều cách phân loại địa danh trong quá trình nghiên cứu của các nhà địa danh học.
Đáng chú là cách phân loại của các nhà nghiên cứu người Nga, chẳng hạn A. Superanskaja trong cuốn “Địa danh là gì” [2, tr.3] đã chia địa danh thành 8 loại: 1, Tên gọi của các điểm dân cư; 2, Tên gọi các con sông; 3, Tên gọi núi non; 17 4, Tên gọi công trình trong thành phố; 5, Tên gọi các đường phố; 6, Tên gọi quảng trường; 7, Tên gọi mạng lưới giao thông; 8, Tên gọi địa điểm phi dân cư nhỏ.