mở đầu cho các câu (16) trên đây đều là những Nội đề, và đều đáp ứng với định nghĩa Đề. Trong hai câu a và b, Trong cái bình này và Cái bình này đều đúng là cái phạm vi trong đó nhận định nhiệt độ lên đến 39 0 có giá trị, có thể ứng dụng được. Trong câu c, d, Chân thành và Anh Nam cũng đúng là cái phạm vi trong đó “ai cũng quý” có thể ứng dụng được. Trong cái bình này vạch ra một phạm vi không gian, Chân thành vạch ra một phạm vi cảnh huống (điều kiện) còn Cái bình này và Anh Nam vạch ra một phạm vi cá thể, hay nói bằng một thứ ngôn ngữ tự nhiên hơn, thu hẹp cái phạm vi ứng dụng của phần Thuyết vào một cá thể.
20 Đề của câu a và c thích hợp với cách nói về phần Thuyết rằng phần này “nói một điều gì trong khuôn khổ của cái Đề đó”; còn Đề của câu b, d thích hợp hơn với cách nói về phần Thuyết rằng nó “nói một điều gì về cái Đề đó”. Sự khác nhau về chất này khiến ta phải phân biệt hai thứ Nội đề: i) Chủ đề, là phần câu chỉ cái đối tượng được nói đến trong phần Thuyết, cái chủ thể của sự nhận định. ii) Khung đề, là phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh huống, thời gian, không gian, trong đó điều được nói ở phần Thuyết có hiệu lực. Khung đề thường là những ngữ gồm có những danh ngữ (kể cả đại từ nhân xưng và hồi chỉ) có chuyển tố đi trước (giới ngữ), những ngữ đoạn có trung tâm là danh từ chỉ thời gian như: mai, chiều, khi, lúc, thuở, dạo, chỉ nơi chốn, nơi chỗ những vị ngữ hay những tiểu cú có chuyển tố trực chỉ hay hồi chỉ như đây, thế, vậy… Chủ đề chủ yếu là những danh ngữ, kể cả “đại từ nhân xưng” và hồi chỉ, không có chuyển tố đi trước, nhưng có cả những vị ngữ và những tiểu cú không có chuyển tố.
Chủ đề không trùng với chủ ngữ mà ngữ pháp truyền thống thường dùng cho cả tiếng Việt. Sự phân biệt Chủ đề và Khung đề nói chung là cần thiết cho việc phân tích câu nói về phương diện nghĩa và ngữ pháp. Nhưng cần lưu ý rằng không phải bao giờ cũng có thể phân biệt được hai thứ đề này một cách dễ dàng. Chủ đề không bị gắn chặt vào vị ngữ về ngữ pháp và về nghĩa.
Nó không cần là một thành viên trong cấu trúc tham tố thường cố định của vị từ. Cái cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt dùng để diễn đạt một mệnh đề tương ứng một đối một với cấu trúc của một mệnh đề, trong đó thành phần chính thứ nhất - Đề (Topic) - biểu thị Sở đề, và thành phần thứ hai - Thuyết (Comment) - biểu thị Sở thuyết của một mệnh đề. Nội dung và phạm vi nghiên cứu Nhiệm vụ của luận văn này là đối chiếu loại hình của Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh. Khi đối chiếu, luận văn xem xét sự tương đồng và khác biệt về cách thức và phương tiện biểu đạt của cấu trúc ấy giữa hai ngôn ngữ đã xem xét.
Luận văn sẽ đi vào chứng minh Đề trong tiếng Việt là Nội đề; thuộc về cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt. Đề trong tiếng Anh là Ngoại đề; nằm ngoài cấu trúc cú pháp cơ bản của câu. Luận văn sẽ dành riêng một chương để so sánh các thuộc tính ngữ pháp của Đề trong câu tiếng Việt với Đề trong câu tiếng Anh khi Đề trùng với chủ ngữ và hành chức với tư cách là một chủ ngữ ngữ pháp, để từ đó thấy được đặc trưng loại hình của tiếng Việt (ngôn ngữ thiên Chủ đề) và tiếng Anh (ngôn ngữ thiên Chủ ngữ). Phương pháp nghiên cứu Phương pháp so sánh - đối chiếu: đối chiếu sự khác nhau giữa Ngữ pháp cấu trúc và Ngữ pháp chức năng bằng những lí thuyết và những ví dụ minh họa để thấy được sự khác biệt trong những tình huống cụ thể.
Qua đó, bài viết so sánh sự thể hiện của Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh để thấy được sự tương đồng và khác biệt trên quan điểm đồng đại. Phương pháp mô tả: dù Ngữ pháp chức năng của giai đoạn hiện nay vẫn còn là một ngữ học của ngôn ngữ nhiều hơn là một ngữ học của ngôn từ thì nó cũng khác hẳn ngôn ngữ học cấu trúc cổ điển. Luận văn sẽ cố gắng mô tả thật kĩ, lấy căn cứ cho sự so sánh đối chiếu nhằm làm rõ sự khác biệt cơ bản giữa Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh dựa vào tiêu chí loại hình. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Luận văn làm rõ những thuộc tính của Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh về mặt nghĩa học, ngữ pháp và dụng pháp.
Việc nghiên cứu Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh góp phần làm rõ việc phân loại Đề trong hai ngôn ngữ ấy nhằm ứng dụng vào việc hiểu và dạy tiếng Việt, hiểu rõ Đề trong câu tiếng Anh để vận dụng tạo văn bản sao cho có hiệu quả. Bố cục của luận văn Luận văn có 83 trang chính văn, ngoài phần Mở đầu (16 trang), phần Kết luận (9 trang), Quy ước trình bày (2 trang), Mục lục (3 trang) và Tài liệu tham khảo (7 trang), gồm 3 chương: - Chương 1 (31 trang): Trình bày các đặc điểm của Đề trong câu tiếng Việt ở ba bình diện: bình diện ngữ pháp, bình diện nghĩa học và bình diện dụng pháp. - Chương 2 (20 trang): Trình bày các đặc điểm của Đề trong câu tiếng Anh qua các bình diện ngữ pháp, nghĩa học và dụng pháp. Cả ba bình diện này làm thành một hệ thống hữu cơ, trong đó bình diện dụng pháp giữ vai trò chủ chốt chi phối hai bình diện còn lại.
- Chương 3 (32 trang): : So sánh, đối chiếu các đặc điểm của Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh theo tiêu chí loại hình. Luận văn tìm ra sự giống nhau và khác nhau về các thuộc tính cũng như các đặc trưng ngữ pháp của phần Đề ở hai loại hình ngôn ngữ nhằm khẳng định tính phổ quát của các loại cấu trúc đang xét và khẳng định tính thiên về Chủ đề của tiếng Việt và tính thiên về Chủ ngữ của tiếng Anh. Qua đó ta có thể nhận diện được Đề trong câu tiếng Việt là Nội đề và Đề trong câu tiếng Anh là Ngoại đề. 23 Chương 1 ĐỀ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT 1.
Những thuộc tính ngữ pháp (Grammar) 1. Khái niệm và phân loại Năm 1958, nhà Hán học người Mỹ Ch.Hockett đã khởi đầu cho việc xây dựng một lí thuyết về câu được ông coi là có tầm hiệu lực cho tất cả các ngôn ngữ. Ông chia câu thành Đề (topic) và Thuyết (comment), đồng thời đưa ra một công thức cực kì đơn giản và chính xác: “Khi nói một câu, người ta đưa ra một cái Đề, rồi nói một điều gì về cái đề đó hoặc trong khuôn khổ của cái Đề đó” (1958:201). Và từ đó, khái niệm này trở thành quen thuộc đối với giới ngôn ngữ học.
Firbas coi Đề là một yếu tố được suy ra từ ngữ cảnh và đóng góp cái tối cần thiết cho việc phát triển giao tiếp. Theo Halliday: “Đề là điểm xuất phát của thông điệp: là cái mà câu sắp sửa nói đến”. Từ những năm 60 của thế kỉ XX, có những tác giả nhận thấy rằng, trong tiếng Việt, dù có gò ép thế nào cũng không tìm ra một cái gì giống với chủ ngữ và vị ngữ. Cũng từ đây, các nhà Việt ngữ học tìm hướng xử lí cái thành phần đứng đầu câu mà trong khá nhiều trường hợp không thể xem nó là chủ ngữ.
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê cho rằng trong tiếng Việt, ngoài chủ từ (chủ ngữ) và thuật từ (vị ngữ) còn có một thành phần gọi là chủ đề. Hoàng Trọng Phiến làm rõ khái niệm từ - chủ đề: “Từ - chủ đề nêu lên nội dung chính của thông báo được nói bằng nòng cốt của câu. Thường thường nó ở đầu câu, và không liên hệ trực tiếp với một từ nào trong câu cả. Tuy nhiên cái ý mà nó nêu ở đầu câu trùng với thành phần mang ý ấy trong nòng cốt.” (1) Hổ, nó dữ tợn lắm.
Trong câu (1) Hổ được coi là từ - chủ đề Tuy các tác giả trên chưa đưa ra được một định nghĩa thỏa đáng về Đề nhưng đã thừa nhận cái thành phần biểu thị Sở đề của mệnh đề, cái làm đề tài thông báo cho cả câu và gọi bằng những cái tên: Chủ đề, từ - chủ đề. 24 Nguyễn Kim Thản cũng cảm thấy có một cái gì đó không ổn trong cách phân tích câu tiếng Việt theo mô hình chủ - vị , ông đồng nhất cấu trúc Đề - Thuyết với sự phân chia “cái cũ” và “cái mới” (Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt, 1981). Ông khẳng định “chủ ngữ là phần nêu lên cái gì đó, vị ngữ là phần nói về chủ ngữ” và “đáng ra nên gọi chủ ngữ là phần nêu, vị ngữ là phần báo” (1981: 29). Nhà ấy, mình phải chừa ra mới được.
Nói, bác ấy lựa lời lắm. Tôi thì tôi xin tùy chị. Nhà ấy, Nói, Tôi trong câu (2)a, b, c ở trên, Nguyễn Kim Thản cho là thành phần khởi ngữ. Theo ông, “khởi ngữ là thành phần thứ yếu của câu, thường xuyên đứng ở vị trí số 1 trong câu song phần… Khởi ngữ biểu thị chủ đề logic của câu nói” (1981: 208).
Theo Hoàng Trọng Phiến: “Thành phần khởi ý giống như Chủ đề, nó nêu lên nội dung chính của thông báo được nói bằng nòng cốt của câu. Thường thường nó ở đầu câu và không liên hệ trực tiếp với một từ nào trong câu cả. Tuy nhiên cái ý mà nó nêu ở đầu câu trùng với thành phần mang ý ấy trong nòng cốt.” Diệp Quang Ban chủ trương câu tiếng Việt có cấu trúc Đề ngữ - Thuyết ngữ và Đề ngữ được coi là “loại thành phần phụ của câu đứng trước nòng cốt câu (thường ở đầu câu), ít khi đứng sau chủ ngữ và trước vị ngữ, được dùng để nêu lên một vật, một đối tượng, một nội dung cần bàn bạc với tư cách chủ đề của câu chứa nó” (1980: 182) Đôi khi, tác giả lại cho rằng: “Trong câu đơn hai thành phần với trật tự chủ ngữ, vị ngữ, chủ ngữ sẽ là phần Đề, vị ngữ là phần Thuyết .”(1981 : 25-31) Thompson cho rằng trong tiếng Việt không thể tìm thấy một cái gì đó gọi là “chủ ngữ”. Bên cạnh đó, Helge J.