mở đầu bằng “that” cho phép lượt bỏ “that” trong một số ngữ cảnh nhưng chúng có thể được nhận biết là phụ thuộc bằng cách chèn “that” vào đầu mệnh đề. Chẳng hạn: I suppose (that) I can use your phone. (b) Các mệnh đề quan hệ “vắng liên từ phụ thuộc” (zero relative clause), không hiện diện rõ chỉ tố liên từ phụ thuộc, nhưng có vẻ khuyết cấu trúc: I can’t find the note you sent me. You sent me trong ví dụ trên vắng tân ngữ trực tiếp bởi vì me hành chức là tân ngữ gián tiếp.
(c) Một số mệnh đề bình phẩm (comment clause) không hiện diện rõ chỉ tố phụ thuộc, nhưng chúng giống như mệnh đề quan hệ “vắng liên từ phụ thuộc” thường thiếu một bổ ngữ bắt buộc sau động từ: I have no alternative, I suppose. Tóm lại, qua các phân tích trên Quirk và cộng sự đã cho ta thấy phân loại các liên từ phụ thuộc trở nên bao quát và toàn diện hơn, cụ thể được thể hiện qua bảng sau: Bảng 2. 1: Phân loại liên từ phụ thuộc trong tiếng Anh theo Greenbaum và Quirk (1990) Simple Complex Correlative Marginal Other subordinators subordinators subordinators subordinators indicators After, Ending with that: As…so, as…as, Even if, if Wh- although, as, butthat, that, in so.as, only, the elements: because, order that, insofar such…as, moment who, whom, before, that, in the event so/such (that), (that), whose, directly, if, that, savethat, such less/more (- everytime which, immediately, that. /er) than, no (that); when,where, lest, like, Ending with sooner… than/ because of what, why, once, since, optional that: when, the fact that, how,whoeve that, though, assuming(that), barely/hardly/ due to the r,whomever, till, unless, considering(that), scarcely…wh fact that, on whichever, until, excepting(that), en/than, account of wherever, when(ever), given (that), the…the, the fact that,in whenever, where(ver), granted (that), whether/if…o r (the) light whatever, 12 whereas, granting (that), ofthe fact however, whereupon, provided (that), that, in spite whosoever, while, whilst providing (that), ofthe fact whomsoever seeing (that), that, wheresoever supposing (that); regardless of ,whatsoever, except that, for all the fact that; howsoever; that, now that, so in spite of the the relative that.
fact/the pronoun Ending with as: news/your that; the according as, as report/my subject- far as, as long as, belief operator as soon as, inversion; forasmuch as, the absenc inasmuch as, of a finite insofar as, verb insomuchas. Others: as if, as though, in case 2. Quan điểm về liên từ phụ thuộc trong tiếng Việt Quan hệ từ (hay còn gọi là kết từ hoặc từ nối) theo Diệp Quang Ban (2005, tr. 547 - 552), giới thiệu rằng quan hệ từ là những từ hoặc cụm từ dùng để diễn đạt các quan hệ lôgic, nhằm kết nối các từ, cụm từ, câu, thậm chí cả các tổ chức lớn hơn câu với nhau.
Trong nhiều ngôn ngữ, kết từ có thể được phân thành hai loại chính là giới từ và liên từ. Tuy nhiên, cách phân biệt này gặp rất nhiều khó khăn trong tiếng Việt, nhưng vẫn cần đề cập đến tên gọi giới từ và liên từ ở những trường hợp cần thiết (như khi sử dụng thuật ngữ giới ngữ). Một cách thuận tiện hơn để phân loại các quan hệ từ trong tiếng Việt là sử dụng hai loại quan hệ từ bình đẳng và quan hệ từ phụ thuộc, dựa trên quan hệ lôgic. Cần lưu ý rằng trong ngôn ngữ, một từ có thể diễn đạt một số loại quan hệ khác nhau, trong đó có một loại quan hệ chủ yếu cho từ đó.
Chẳng hạn từ và vốn từ được coi là từ diễn đạt quan hệ bổ sung (theo kiểu “cộng”), vẫn có thể dùng để diễn đạt quan hệ thời gian hoặc quan hệ nguyên nhân trong tình huống thích hợp. Cũng cần chú ý rằng tồn tại những quan hệ từ vừa diễn đạt quan hệ lôgic vừa có khả năng diễn đạt quan hệ liên nhân. 13 Quan hệ từ phụ thuộc thường gặp các từ vì, nên, nếu, tuy, dù, thà, để, mà (tấm ảnh mà tôi nói với anh), của, bằng (lọ hoa bằng đồng), ở (sống ở Việt Nam), trong, ngoài, trên, dưới, từ (từ chỗ này), đến (đến chỗ kia), cho (gửi cho nó hai lá thư), về (về kinh tế) , đối với (với), những từ có nghĩa giống và gần giống với các từ này. Trong tiếng Việt, có những quan hệ từ phụ thuộc còn rõ mối quan hệ với các thực từ như quan hệ từ của (so sánh với danh từ trong có nhiều của), quan hệ từ về (so sánh với động từ trong Nó về rồi.
Trong những trường hợp đó việc nhận diện quan hệ từ gắn liền với việc xác định vai trò cú pháp và ngữ nghĩa của chúng trong câu. Sau đây là một số giới từ hay gặp và một số ví dụ: Quan hệ từ vì, do, tại, bởi, nhờ. diễn đạt quan hệ nguyên nhân, như trong chết vì tai nạn; việc do nó gây ra; Bởi ông nguyệt lão nhỡ nhàng xe duyên; nhờ công cha mẹ nuôi dưỡng. Quan hệ từ nên, cho nên, nên chi diễn đạt mối quan hệ hệ quả, như trong cách Sông nên phải lụy đò; Vì bận nên không đến; Mà quan sức mười hai giờ, thì mình phải đến từ mười một giờ […].
Vả lại tôi còn phải mang cờ lên lúc mười giờ, thì chả đi từ năm sáu giờ thì đi vào lúc nào. Cho nên mọi người phải chờ ở đình từ gà gáy. (Nguyễn Công Hoan) Khi trong câu có quan hệ từ vì thì vế chứa nên là vế chính. Khi trong câu chứa hai vế có quan hệ nhân – quả với nhau, và chỉ có quan hệ từ nên thì vế có nên dẫn đầu là vế phụ chỉ hệ quả.
Khi nên, cho nên đứng đầu câu chỉ hệ quả nối với các câu đứng trước câu này, thì nên, cho nên là quan hệ từ chỉ hệ quả nối câu với câu. Trước đây vẫn còn cách dùng từ sở dĩ .(là) vì để chỉ quan hệ nhân- quả, như trong: Sở dĩ thi hỏng là vì học kém. Cùng với quan hệ nguyên nhân - hệ quả, vì và nên cũng được dùng để dánh dấu quan hệ lập luận. Trong quan hệ lập luận, vì có thể đứng trước luận cứ, nên đứng trước kết luận; khi kết luận đứng trước luận cứ thì nên không xuất hiện, giống như quan hệ giữa hai vế trong câu ghép chứa vì, nên: (Vì) mưa thuận gió hòa, (nên) năm nay chắc là được mùa lúa; Năm nay chắc được mùa lúa, vì mưa thuận gió hòa.
Quan hệ từ nếu, nếu như, nếu mà hễ, hễ mà diễn đạt quan hệ điều kiện 14 (thường kéo theo thì ở đầu vế câu sau), như trong Nếu xong sớm thì được thưởng; Hễ mưa to thì ở đây ngập nước. Từ hễ có thêm sắc thái nghĩa “lặp nhiều lần” hoặc “lần nào cũng vậy”, từ nếu không bắt buộc phải có nghĩa này. Quan hệ từ tuy, tuy rằng, dù, dù rằng, mặc dầu (thường kéo theo quan hệ từ nhưng ở đầu vế sau, hoặc phó từ vẫn, còn trong vế sau), và quan hệ từ dẫu, dẫu rằng diễn đạt quan hệ nhượng bộ (tương phản yếu so với vế câu còn lại), như trong: Sấm bên đông, động bên tây, Tuy rằng nói đấy, nhưng đây động lòng. Hoa sen mọc bãi cát lầm, Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.
Trăng mờ còn tỏ hơn sao, Tuy rằng núi lở còn cao hơn gò. Nó làm hết sức mình, mặc dù nó không thích. Quan hệ từ thà cũng diễn đạt quan hệ nhượng bộ (nghịch đối) trong ý nghĩa là chấp nhận một điều thiệt lớn, hơn là nhận một điều mà cho là không tốt (có thể kéo theo chứ ở đầu vế sau), như trong: Thà chết chứ không làm nô lệ; Thà không biết, biết lại thêm lo. Quan hệ từ để, cho, để cho nhằm diễn đạt quan hệ mục đích: Nhà nào cũng có bộ bàn ghế để tiếp khách; Họ đóng bàn ghế để các em ngồi học; Ba bốn giờ mới bắt đầu, nhưng quan bắt đến huyện từ mười hai giờ.
Để ngài điểm (Nguyễn Công Hoan); Để mở rộng việc tuyên truyền […] ông Nguyễn và những đồng chí của ông ra tờ báo “Người cùng khổ” (Trần Dân Tiên); Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân (Nguyễn Du); Kiểm tra kĩ nhằm tránh sai sót. Khi chỉ mục đích cũng có thể dùng từ muốn, tuy nhiên muốn vẫn là một thực từ. Quan hệ từ mà diễn đạt một số quan hệ không thật xác định, đó có thể là quan hệ bổ sung, quan hệ tương phản nhẹ (so với còn, nhưng), quan hệ mục đích, quan hệ hệ quả, quan hệ giả thiết (tương đương với nếu mà, thường kéo theo từ thì), quan hệ giải thích (cho từ ngữ đứng trước mà). Ví dụ: Chẳng hay mà cũng chẳng dở.
(Bổ sung) Đói mà chẳng muốn ăn. (Tương phản nhẹ) Nói cho mà biết; Căng óc ra mà suy nghĩ. (Mục đích) Đừng ngờ mà oan cho người ta. (Hệ quả) 15 Người mà đến thế thì thôi.
(Nguyễn Du) (Giả thiết) Khó mà biết được tại làm sao. (Thuyết minh cho một tính từ) Người mà anh giới thiệu. (Thuyết minh cho danh từ) Tránh nhầm quan hệ từ mà với trợ từ mà nhấn mạnh, như trong: Việc như thế mà tôi chưa được biết; Ai mà chịu được nó? Quan hệ từ ở diễn đạt quan hệ vị trí giữa hành động với nơi diễn ra hành động, có khi kết nạp với một quan hệ từ chỉ nơi chốn khác làm thành một tổ hợp (hợp thể) quan hệ từ như trong: sống ở Việt Nam; sống ở tại Việt Nam; đựng ở trong bình. Quan hệ từ của diễn đạt quan hệ sở thuộc (có khi chỉ quan hệ nguồn gốc), như trong: Nó mượn quyển sách của tôi; nó mượn của tôi hai quyển sách; Họ rất thích hàng của chúng tôi làm ra (chỉ nguồn gốc).
Quan hệ từ bằng diễn đạt quan hệ giữa vật và nguyên liệu làm ra nó, hoặc chỉ quan hệ giữa vật và phương tiện chuyên chở, như trong: cái vành xe bằng sắt mạ; cái ấm bằng nhôm; họ chở thóc bằng xe tải. Quan hệ từ từ và đến diễn đạt quan hệ không gian hoặc thời gian, khi hai từ cùng xuất hiện thì chúng phối hợp diễn đạt điểm bắt đầu và điểm kết thúc, tạo nên tính chất “khoảng cách không gian” hoặc “khoảng cách thời gian”. Chẳng hạn như chạy từ chỗ này chỉ nơi xuất phát, chạy đến cổng trường chỉ nơi đến; chạy từ lúc bảy giờ chỉ thời điểm xuất phát, chạy đến chín giờ năm phút chỉ thời điểm kết thúc. Còn chạy từ cổng trường đến sân vận động chỉ khoảng cách không gian; chạy từ tám giờ đến tám giờ rưỡi chỉ khoảng cách thời gian.
Quan hệ từ trong, ngoài, trên, dưới… (đứng trước danh từ), như trong Nó nằm ngủ ngoài sân; Sách để ở trên bàn (trong ví dụ này ở và trên làm thành tổ hợp quan hệ từ); Lấy quyển sách trên bàn, đừng lấy quyển sách trong ngăn kéo!