Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm vai nghĩa Khái niệm vai nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ dùng với nhiều thuật ngữ khác nhau: cases (cách), semantic relations (quan hệ ngữ nghĩa), roles hay case-roles (vai nghĩa); hoặc thematic roles, theta-roles (vai tham tố), như phái ngữ pháp cải biến (transformational grammar) thường gọi. Luận văn chọn “vai nghĩa” (roles) vì thuật ngữ này ngắn gọn và dễ dàng gắn nó với khái niệm “phân vai” (role assignment) của vị từ ngôn liệu trong khung vị ngữ của câu. Theo tác giả Tô Minh Thanh [44: 37] thì nhìn chung chưa có một định nghĩa nhất quán dành cho vai nghĩa.
Wilkin [1998; 191-192], vai nghĩa “là thành phần thể hiện về mặt tinh thần các vật thể và khái niệm”. Cùng quan điểm này có D. Các tác giả này ít nhiều đều đánh đồng vai nghĩa (role) với các phạm trù của nhận thức (cognitive categories) và vì vậy mà vai nghĩa phải neo đậu vào bến bờ của nhận thức” [Schlessinger,1995: 4] giống như cách thức mà ngôn ngữ lồng ý nghĩa vào âm thanh vậy và do đó bắt buộc âm thanh phải chở tải ý nghĩa. Fillmore, một sự tình gồm một vị từ trung tâm và quây quần quanh nó là các ngữ đoạn biểu thị những cách ngữ nghĩa hay vai nghĩa (semantic role) nào đó.
Fillmore đã đưa ra một số vai nghĩa mà ông cho là có tính phổ quát, có thể tìm thấy trong mọi ngôn ngữ, phản ánh một phương diện chung trong cách thức chúng ta tri nhận về thế giới: “Ý niệm về cách bao gồm một tập hợp khái niệm phổ quát, được giả định là bẩm sinh, xác định những kiểu tri nhận nào đó của con người về những sự tình đang diễn ra quanh họ, tri nhận những vấn đề như ai thực hiện nó, nó xảy ra đối với ai và cái gì thay đổi” (Fillmore 1968, 24) [28: 41]. Định nghĩa của Fillmore cho thấy tác giả nhấn mạnh tính phổ quát của vai nghĩa: nếu kết cấu bẩm sinh của miền nhận thức là giống nhau ở mọi người và nếu vai nghĩa là những khái niệm nhận thức cơ bản (cognitive primitives) thì chẳng phải đó là các phổ niệm (universals). Theo định nghĩa trên của Fillmore về vai nghĩa thì chúng ta có thể hiểu là vai nghĩa tồn tại trong nhận thức nhưng độc lập với ngôn ngữ và có lẽ là có trước ngôn ngữ và rằng hệ thống ngôn ngữ có sử dụng các vai nghĩa thì tồn tại độc lập với các vai này. Schlesinger [1995: 24] “đề nghị […] coi các vai nghĩa là những kết cấu ngôn ngữ không nhất thiết phải tồn tại trong miền nhận thức dù có thể được định nghĩa bằng khái niệm trong miền nhận thức.
Ý kiến này đã để ngỏ cái khả năng là vai nghĩa có thể mang tính cụ thể của riêng từng ngôn ngữ (language-specific). Cách đề xuất của Schlesinger coi vai nghĩa là những kết cấu ngôn ngữ dẫn đến việc phải xác định tiêu chuẩn nhận diện các vai nghĩa và xem chúng hoạt động như thế nào dưới tác động của quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể như tiếng Anh chẳng hạn. Ví dụ vai Tác thể trong tiếng Anh có thể được xác định nhờ những khái niệm nhận thức cơ bản, chính là các đặc điểm của vai nghĩa này, như [+ hành động (activity)], [+ chủ định (volitition)] và [+ý định (intention)] và [+ động vật (anymacy)]. Như vậy, quan điểm của Schlesinger coi vai nghĩa là những kết cấu ngôn ngữ.
Quan điểm này cũng có thể rất hữu ích cho việc phân tích một số vai nghĩa trong câu tiếng Việt. Theo tác giả Cao Xuân Hạo, câu biểu hiện một sự tình (hay sự thể). Nội dung (nghĩa biểu hiện) của nó có thể hình dung như một “cảnh” (một màn kịch ngắn) diễn trên sân khấu. Cái cảnh ấy có một nội dung nhất định: trên sân khấu hiện ra quang cảnh nào đấy (một sự tình tĩnh), rồi lại diễn ra một sự việc nào đấy (một sự tình động).
[27: 51] Như vậy, các tham tố là các vai nghĩa trong một màn kịch nhỏ của một sự thể. Tác giả Hoàng Dũng và Bùi Mạnh Hùng cũng đã định nghĩa vai nghĩa là “quan hệ ngữ nghĩa của ngữ danh từ đối với vị từ trong câu, là cách thức mà thực thể do ngữ danh từ biểu thị góp phần vào sự tình được câu diễn đạt.” [17: 134] Vấn đề vai nghĩa là một vấn đề phức tạp và đã được khảo sát, nghiên cứu theo nhiều quan điểm khác nhau. Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ chưa có sự thống nhất cao trong việc xác định và miêu tả các vai nghĩa. Vấn đề danh sách các vai nghĩa và tên gọi của các vai nghĩa cũng còn chưa có sự thống nhất ở các nhà nghiên cứu.
Theo tác giả Nguyễn Văn Hiệp [28: 46], có tình hình này bởi các lí do sau: - Thứ nhất, hiện nay nhiều tác giả khác nhau khi nghiên cứu vai nghĩa đã nêu ra một danh sách khác nhau. Thường thấy, là một danh sách khoảng vài chục vai, nhưng cũng có thể lên đến hàng trăm vai (Dixon 1992). - Thứ hai, tên gọi của các vai có thể khác nhau. Có tình trạng một số tác giả dùng chung tên gọi vai nghĩa, nhưng quan niệm khác nhau.
Lại có tình trạng dùng tên gọi vai nghĩa khác nhau, nhưng quan niệm lại giống nhau… Và cũng theo tác giả Nguyễn Văn Hiệp [28: 46], ngoài ra cũng phải tính đến khả năng là một ngữ đoạn nào đó trong câu có thể đảm nhận hơn một vai nghĩa, tức nhìn từ góc độ này thì có thể cho rằng nó biểu thị vai nghĩa x, nhưng nhìn từ góc độ khác lại có thể cho rằng nó biểu thị vai nghĩa y. Trước những vấn đề phức tạp như trên, luận văn bước đầu chỉ tìm hiểu một số vai nghĩa đã được các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất về tên gọi như các vai: đối thể, tạo thể, phương thức, vị trí, nguồn. Những vai nghĩa phổ biến trong khung vị ngữ 1. Khung vị ngữ Theo Cao Xuân Hạo (1991: 103- 106), nghĩa của câu không đơn giản là một phép cộng nghĩa của các từ ngữ trong câu.
Nghĩa của câu là một cấu trúc có nhiều tầng. Các tầng nghĩa trong câu phối hợp với nhau tạo ra nghĩa hành chức (nội dung thông báo) của câu. [Dẫn theo 21: 23] Cao Xuân Hạo quan niệm “nghĩa chính là cái điều được truyền đạt trong lời nói” [23:17] gồm nội dung hay ý nghĩa- nghĩa nguyên văn và nghĩa ngôn trung. Ông phê phán quan điểm cho nghĩa của câu chỉ là tổng các nghĩa của từ kết hợp lại mà thành.
Ông ủng hộ quan điểm của Dik “lớp nghĩa học là lớp nghĩa của ‘sự tình’ được biểu thị và những ‘vai trò’ tham gia vào sự tình ấy. Ở đây có những tham tố (participants) của sự tình, gồm có các diễn tố (actants) và những chu tố (circumstants). Các diễn tố là những vai trò tất yếu được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ. Chẳng hạn một vị từ cho tất nhiên giả định một chủ thể của hành động “cho” (hay hành thể), một đối thể là vật được đem cho và một tiếp thể tức người nhận tặng phẩm.
Các chu tố làm thành cái cảnh trí ở xung quanh các tham tố không được giả định một cách tất nhiên trong khung vị ngữ. Đó là các điều kiện thời gian, không gian, là cách thức, phương tiện, hoặc là những nhân vật có liên quan,”v. [23:21] Cũng theo tác giả Cao Xuân Hạo (1991) “các sự tình, được biểu hiện trong ngôn ngữ bằng những câu mà hạt nhân là khung vị ngữ, gồm lõi vị ngữ, (mà trung tâm là vị từ) và các tham tố của nó trong đó có một tham tố làm đề (hay tiểu đề nếu câu có nhiều bậc cấu trúc đề- thuyết)” trước hết có thể chia ra làm ba loại sau: câu tồn tại, nhận định rằng trong một thế giới hay một nơi nào đó có một cái gì; câu chỉ sự tình động hay sự việc biến cố; câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình. từ đó ông phân loại câu theo vị từ Hành động (vô tác, chuyển tác), Quá trình (vô tác, chuyển tác), Trạng thái, Quan hệ với số lượng các diễn tố và vai nghĩa của các diễn tố cùng với một vài chu tố.
[23: 433] Như vậy, trong khung vị ngữ, vị từ là yếu tố cốt lõi và quây quần xung quanh là các tham tố biểu thị một số vai nghĩa nào đó hay có thể gọi là cấu trúc vị từ- tham tố. Có những vai nghĩa mang tính bắt buộc, bị quy định bởi bản chất từ vựng- ngữ pháp của vị từ trung tâm, theo cái nghĩa là những vị từ có bản chất từ vựng- ngữ pháp khác nhau sẽ quy định các vai nghĩa bắt buộc khác nhau. Nhưng cũng có những vai nghĩa mang tính tùy nghi, tức không chịu sự quy định bắt buộc như vậy. Trong ngữ pháp của Tesnière, những vai nghĩa bắt buộc sẽ được hiện thực hóa thông qua những ngữ đoạn được coi là diễn tố, còn những vai nghĩa tùy nghi thì được hiện thực hóa thông qua các ngữ đoạn được gọi là chu tố.
Việc đánh giá một vai nghĩa là bắt buộc hay tùy nghi phải đặt trong quan hệ với vị từ trung tâm. Vị từ và các tham tố 1. Vị từ Các nhà nghiên cứu theo quan điểm chức năng cho rằng trong khung vị ngữ không nên đồng nhất khái niệm vị từ với hai từ loại (bao gồm động từ và tính từ) theo cách hiểu thông thường. Ở đây vị từ được hiểu là yếu tố ngôn ngữ chỉ đặc trưng và quan hệ với tư cách chức năng ngữ nghĩa; trong quan hệ với các tham tố (tham thể) mới xuất hiện khái niệm vị từ.
Vị từ với cách hiểu như trên sẽ do các từ loại khác đảm nhiệm có thể là động từ, tính từ và cũng có thể là danh từ. Theo tác giả Diệp Quang Ban thì Anna Siewierska- một tác giả có công trình nghiên cứu về ngữ pháp chức năng- đã từng nhận xét: “Trong ngữ pháp chức năng, toàn bộ các vị từ chia thành ba loại: thuộc động từ, thuộc tính từ và thuộc danh từ” [tr 22- Ngữ pháp chức năng- 1991] [Dẫn theo 1:14]. Tất nhiên thực tế sử dụng ngôn ngữ cho thấy vị từ thường do tính từ và động từ thể hiện. Tôi đọc sách.
Em bé gầy yếu quá. Bông hoa này rất đẹp. Trường hợp danh từ đảm nhận chức năng làm vị từ là trường hợp rất hạn hữu. Hầu như ta chỉ gặp vị từ là danh từ trong các kiểu câu: - Anh công nhân, em bác sĩ.
- Nhà ấy vợ giáo viên, chồng kỹ sư. Hoặc - Mưa ! - Chuột !