phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm có 4 chƣơng, cụ thể: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHƢƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ PHÓ TỪ ĐỨNG TRƢỚC TRUNG TÂM NGỮ ĐOẠN ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT CHƢƠNG 3: CÁC PHÓ TỪ ĐỨNG TRƢỚC TRUNG TÂM TRONG NGỮ ĐOẠN ĐỘNG TỪ TIẾNG HÀN CHƢƠNG 4: ĐỐI CHIẾU VỀ VỊ TRÍ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA PHÓ TỪ TRONG NGỮ ĐOẠN ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT, TIẾNG HÀN 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN Khi bắt tay vào làm đề tài: “Các phó từ đứng trƣớc trung tâm ngữ đoạn động từ Tiếng Việt – Tiếng Hàn” tôi đã tìm hiểu qua rất nhiều về thực từ và hƣ từ trong Tiếng Việt. Trong ngôn ngữ, thực từ và hƣ từ luôn đƣợc phân chia thành hai mảng lớn dù nó là ngôn ngữ thuộc loại hình tổng hợp hay loại hình phân tích tính. Trong đó, hƣ từ trong Tiếng Việt đóng vai trò vô cùng quan trọng. Ngôn ngữ hằng ngày đƣợc con ngƣời sử dụng hƣ từ phổ biến, đặc biệt là trong ngôn ngữ viết, trong các tác phẩm văn thơ.
Phó từ là một thành phần của hƣ từ Tiếng Việt và chiếm một số lƣợng từ nhất định đóng vai trò ý nghĩa và chức năng trong câu. Có thể thấy số lƣợng phó từ chỉ vài chục từ nhƣng lại có tần số sử dụng rất cao và có tác dụng về ngữ pháp. Hầu hết trong các câu nói hoặc viết của ngƣời Việt và ngƣời Hàn đa số đều có sự góp mặt của các phó từ trong câu. Tùy vào trƣờng hợp ngƣời nói sử dụng phó từ đúng với hoàn cảnh giao tiếp.
Nhờ có phó từ câu văn trở nên đa dạng hơn, nó không chỉ về tính chất từ pháp mà còn về cú pháp trong câu. Phó từ dựa vào vị trí đứng của mình trong câu để tạo nên lớp nghĩa đặc biệt cho câu văn. Nó có thể đứng trƣớc hoặc đứng sau động từ và tính từ. Tùy vào vị trí đứng mà phó từ có thể giúp câu biến đổi nghĩa.
Qua quá trình khảo sát tôi thấy rằng đa số phó từ đều đứng trƣớc trung tâm ngữ đoạn động từ, đóng vai trò quan trọng để diễn đạt nghĩa cho câu. Trong tiếng Hàn, phó từ cũng chiếm một lƣợng từ nhất định. Nó thƣờng đứng trƣớc động từ hoặc tính từ và đóng vai trò làm rõ nghĩa cho chúng. Chính vì vậy mà phó từ ở tiếng Hàn vô cùng quan trọng, chúng đƣợc sử dụng hằng ngày không chỉ trong ngôn ngữ nói mà còn là ngôn ngữ viết.
Tuy nhiên có phải phó từ tiếng Việt đều giống với phó từ tiếng Hàn hay không? Để hiểu về phó từ cũng nhƣ các phó từ đúng trƣớc trung tâm ngữ đoạn tiếng Việt và tiếng Hàn chúng ta đi vào nghiên cứu và tìm hiểu tìm hiểu về phó từ của tiếng Việt – Hàn để có thể có cái nhìn chính xác hơn trong việc sử dụng phó từ. Phó từ Trong luận văn này, tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về phó từ, đặc biệt là các phó từ đứng trƣớc ngữ đoạn động từ của tiếng Việt và tiếng Hàn. Là một học viên chuyên ngành ngôn ngữ, tôi luôn tìm hiểu về tiếng Việt và từ đó đối chiếu tìm ra điểm tƣơng đồng khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Hàn. Tôi luôn nhận thấy với vấn đề mình nhiên cứu, tôi gặp rất nhiều thuận lợi.
Bởi lẽ, vấn đề phó từ trong tiếng Việt và tiếng Hàn có rất nhiều nhà nghiên cứu đi trƣớc nói đến. Mỗi phó từ đều đƣợc giải thích nghĩa cụ thể, có ví dụ rõ ràng. Vì vậy mà tôi thuận lợi trong quá trình khảo sát trong một số tác phẩm. Tuy nhiên vấn đề chỉ rõ điểm tƣơng đồng và khác biệt giữa phó từ giữa hai thứ 6 tiếng tuy có những bài viết nhắc đến nhƣng lại chƣa đi phân tích và nghiên cứu chuyên sâu.
Hay vấn đề dùng phó từ đứng trƣớc ngữ đoạn động từ của tiếng Việt và tiếng Hàn cũng chƣa đƣợc nghiên cứu. Phó từ đóng vai trò tạo nghĩa trong câu và vị trí đứng ở đâu là điều chúng ta chƣa bao giờ để ý đến. Nhƣng với tôi thì vị trí của phó từ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đôi khi cùng một hoàn cảnh nhƣng phó từ sử dụng sẽ khác nhau.
Với việc sử dụng không đúng phó từ cũng đƣa nghĩa của câu đi lệch ý ngƣời nói. Phó từ không đóng vai trò cấu tạo câu nhƣ thực từ nhƣng lại vô cùng quan trọng trong việc xác định ngữ cảnh giao tiếp. Nếu trong câu chỉ có thực từ mà không có phó từ thì sẽ không xác định đƣợc các tình huống phủ định, khẳng định, sự việc diễn ra hay chƣa diễn ra. Nó góp phần làm phong phú ngôn ngữ và lời nói của con ngƣời.
Đối với phó từ tiếng Hàn, có lẽ tôi khó khăn hơn trong việc tìm hiểu vì vốn dĩ ngôn ngữ Hàn nó có sự khác biệt nghĩa rất nhiều so với tiếng Việt. Bằng sự đầu tƣ nghiên cứu, tôi đã có thể dễ dàng tìm hiểu và đi đúng hƣớng hơn trong quá trình phân tích phó từ trong tiếng Hàn. Vốn dĩ đây là một vấn đề khó vì phó từ trong ngôn ngữ Hàn rất ít ngƣời nghiên cứu đến. Tôi cũng đã chọn và phân tích kĩ các ví dụ về phó từ đứng trƣớc động từ, tính từ tiếng Hàn.
Phó từ trong tiếng Việt Phó từ là một phần của hƣ từ trong tiếng Việt, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tập hợp miêu tả về phó từ. Theo Nguyễn Anh Quế trong Ngữ pháp tiếng Việt (1996): “Phó từ là một từ loại hết sức phức tạp cả về ý nghĩa lẫn về chức năng” [45, tr. Cũng trong cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt Nguyễn Anh Quế đã khái quát: “Để làm rõ sự khác nhau trong nội bộ từ loại phó từ, ta có thể tách những loại phó từ chuyên dùng cho danh từ (trừ số từ) lập thành một nhóm riêng và có thể gọi là định từ còn những từ chuyên dùng cho động từ và tính từ thì có thể gọi là tính từ thì gọi là phó từ”. Ông đã nghiên cứu và đƣa ra kết luận rằng phó từ chuyên dùng cho động từ và tính từ còn đƣợc gọi là trạng từ trong nhiều tài liệu ngữ pháp khác mà ông đã đọc [45, tr.
Với tính chất, hầu hết phó từ có chức năng biểu thị ý nghĩa tình thái cho vị từ về mức độ, thời gian, phạm vi, phƣơng thức, góp phần cụ thể hóa nghĩa biểu hiện của vị từ trong câu. Ngữ pháp học cổ điển cũng nhƣ trƣờng phái ngôn ngữ cấu trúc luận thƣờng chỉ quan tâm đến các bình diện ngữ pháp của phó từ nhƣ vị trí trong câu, khả năng kết hợp và dừng lại ở mức độ phân loại phó từ. Chúng ta có thể thấy có rất nhiều tên gọi khác nhau, nhƣng qua quá trình nghiên cứu tất cả các từ mà chúng tôi tìm hiểu đều đƣợc các nhà ngôn ngữ học gọi là phó từ. Bên cạnh đó, Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung khi nêu lên đặc trƣng của phó từ, cho rằng: “Phó từ là hư từ thường dùng kèm với thực từ (động từ, tính từ).
Chúng biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời 7 cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng trong hiện thực. Có thể thấy, phó từ không thể có khả năng làm trung tâm ngữ nghĩa khi kết hợp với thực từ. Trong cấu tạo câu thì lại càng rất ít khi được được làm thành phần chính của câu. Nên chúng chỉ có thể xuất hiện khi đóng vai trò ở vị trí thành tố phụ trong kết hợp với thực từ và cấu tạo thành phần câu.
Tuy nhiên có một số phó từ chỉ có khả năng kết hợp vơi một nhóm thực từ nhất định, nên chúng dùng để phân loại động từ và tính từ” [2, tr. Chính điều này, khi nói đến chức năng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trƣng là nói đến chức năng biểu đạt của phó từ. Trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên viết: “Phụ từ là những hư từ, phụ từ không có chức năng biểu vật, mà chỉ có chức năng dẫn xuất, biểu niệm về tình thái. Nhìn chung ý nghĩa của các phụ từ vừa có tính chất từ pháp vừa có tính chất cú pháp” [8, tr.
Phó từ là một từ loại nằm trong hệ thống phụ từ, có tần số xuất hiện khá cao trong tiếng Việt. Chúng có khả năng hoạt động rất linh hoạt, đồng thời mối quan hệ giữa các phó từ với vị từ trong tiếng Việt cũng khá phong phú và thú vị. Tác giả đã giúp cho chúng tôi nhận thức rằng cấu trúc vị ngữ hạt nhân là thành phần biểu thị tình thái chính trong câu và từ đó cho thấy rằng các yếu tố phụ từ phụ nghĩa cho vị từ nhƣ phó từ trong ngữ đoạn vị từ là những phƣơng tiện tham gia biểu thị tình thái. Phó từ là một loại hƣ từ nên không có chức năng gọi tên các sự vật, hành động, tính chất.
Còn danh từ, động từ, tính từ có chức năng gọi tên các sự vật, hành động và tính chất nên đƣợc gọi là thực từ. Phó từ chỉ đi kèm và bổ sung ý nghĩa cho động từ và tính từ nhƣng không thể đi kèm với danh từ và các nhóm phó từ trong tiếng Việt. Trong quá trình nghiên cứu Nguyễn Văn Hiệp đã xác nhận và gợi ý thêm “các phó từ chỉ thời, thể của truyền thống có thể được nghiên cứu một cách toàn diện và hiệu quả hơn khi đặt chúng trong khung nghiên cứu về tình thái” [23, tr. Phụ từ biểu thị quan hệ ngữ pháp khi nó có mối quan hệ với danh từ.
Nhƣng khi những phụ từ bổ sung nghĩa chỉ thời gian thì nó là những phó từ chỉ thời gian đứng tƣớc, sau động từ và tính từ trong câu. Bên cạnh đó, chúng còn biểu thị ý nghĩa mệnh lệnh, khuyên bảo. Lê Biên đã phân tích “xét về mặt ngữ pháp các phó từ không tham gia vào việc tổ chức cấu trúc của ngữ mà tham gia vào việc tổ chức một số thành tố của cú pháp”. 143] Về ngữ pháp: Phó từ thƣờng đi với từ chính (trung tâm), đứng gần có thể là trƣớc hoặc sau từ trung tâm.
Chúng ta có cấu trúc nhƣ sau: Cũng/ đều, đã, sẽ, đang Vẫn/ còn + Động từ / tính từ + Ngữ động từ / tính từ Không, chẳng, chớ,. 8 Trong cấu trúc trên ta thấy phó từ đã đi kèm với các động từ và tính từ góp phần làm thành tố phụ trong câu.