MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thảm thực vật rừng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người, rừng được coi là một trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, rừng cung cấp nhiều sản vật phục vụ cuộc sống con người như: gỗ, củi đốt, nguyên liệu làm giấy và cây thuốc… Rừng góp phần duy trì chất lượng và nguồn nước sạch. Hơn 3/4 lượng nước sạch trên trái đất bắt nguồn từ rừng. Khi diện tích và chất lượng của rừng bị suy giảm sẽ làm cho chất lượng nước suy giảm; thiên tai như lũ lụt, lở đất và thoái hóa đất đã gây ra những tác động nghiêm trọng tới cuộc sống của con người và các sinh vật trên trái đất.
Rừng có vai trò như cỗ máy điều hòa tự nhiên, là những cỗ máy vệ sinh cần mẫn góp phần làm cho môi trường trong trong lành, bớt độc hại bởi chúng có khả năng hấp thụ, lọc, hút bớt lượng các chất khí độc hại, chống ô nhiễm, làm sạch không khí, giảm tiếng ồn giúp tránh được những nguy hại cho sức khỏe con người. Một điều rất rõ rằng rừng đóng vai trò then chốt trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu, rừng lưu giữ cacbon và hấp thụ CO2 từ không khí. Với đặc điểm là hệ sinh thái trên cạn có tính đa dạng sinh học cao bậc nhất, rừng là nơi trú ngụ của hơn một nửa số sinh vật trên cạn từ những loài linh trưởng khổng lồ tới những sinh vật nhỏ bé nhất. Thị trấn Yên Bình, Huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang là một trong những nơi có diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 77,7% với thành phần loài thực vật khá phong phú và đa dạng.
Từ những năm gần đây hiện tượng chặt phá rừng, khai thác lâm sản thường diễn ra thường xuyên làm cho chất lượng rừng bị giảm sút nghiêm trọng. Một yêu cầu cấp bách được đặt ra là bảo vệ các hệ sinh thái rừng đặc trưng, nhất là những khu rừng nguyên sinh và phục hồi các hệ sinh thái rừng đang và đã bị suy thoái, bảo vệ tính đa dạng của thực vật, đặc biệt là bảo vệ các loài thực vật quý hiếm trên địa bàn Thị trấn Yên Bình.Với lý do trên chúng tôi chọn đề tài: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng thực vật có mạch trong một số kiểu thảm thực vật tại Thị trấn Yên Bình, Huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang góp phần bảo tồn Đa dạng sinh học”. Mục tiêu nghiên cứu - Phân loại thảm thực vật theo khung phân loại của UNESCO (1973) và xác định cấu trúc hình thái các kiểu thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu. - Xác định tính đa dạng về thành phần loài, đa dạng về giá trị sử dụng, đa dạng về thành phần dạng sống.
- Xác định một số loài thực vật quý hiếm dựa theo Sách đỏ Việt Nam (Phần II. Phần Thực vật) (2007), danh lục đỏ IUCN (2006) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006. - Đề xuất một số giải pháp bảo tồn, nâng cao đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu Đề tài thực hiện từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012 tại khu vực thị trấn Yên Bình Huyện Quang Bình Tỉnh Hà Giang.
Do điều kiện hạn chế về thời gian và không có kinh phí do vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu: - Tính đa dạng về thành phần loài; Đa dạng về giá trị sử dụng; Đa dạng về thành phần dạng sống; Cấu trúc các kiểu thảm thực vật; Bước đầu phát hiện một số loài thực vật quý hiếm; Lập bảng danh lục các loài trong các kiểu thảm thực vật ở tại khu vực nghiên cứu. Đóng góp của luận văn - Bước đầu đã xác định được thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật ở Thị trấn Yên Bình, Huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang. - Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam (2007) - Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam 1. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới Dop P.(1931), với công trình nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương với lượng mưa hàng năm. Champion (1936), khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn lớn theo nhiệt độ đó là: thảm thực vật nhiệt đới, thảm thực vật á nhiệt đới, thảm thực vật ôn đới và thảm thực vật vùng núi cao. Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm.
Maurand (1943), nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và Trung Đông Dương. Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam Nghiên cứu lâm sinh học ở nước ta trong mấy thập kỷ qua đã thu được nhiều thành tựu quan trọng đặt nền móng cho các nghiên cứu ứng dụng, nhằm đưa ra các giải pháp kỹ thuật phục vụ cho sản xuất. Từ khi nguồn tài nguyên rừng còn phong phú những nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân loại thực vật, giá trị sử dụng của tài nguyên gỗ rừng Việt nam; Nghiên cứu các trạng thái thảm thực vật, nguyên nhân hình thành, các giai đoạn phát triển. Đó là những nghiên cứu đặt cơ sở khoa học cho nhiều nghiên cứu tiếp tục sau này.
Năm 1918, nhà bác học Pháp, Chevalier là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới). Năm 1943, kỹ sư lâm học người Pháp, Ronaldo đã chia Đông Dương thành 3 vùng thảm thực vật: Thảm thực vật Bắc Đông Dương; Thảm thực vật Nam Đông Dương; Thảm thực vật vùng trung gian. Năm 1953, ở miền Nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng miền Nam Việt Nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil. Năm 1956, giáo sư người Việt Nam, Dương Hàm Hi đã xếp loại thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam theo 1 bảng phân loại mới.
Năm 1962, ở miền nam Việt nam còn xuất hiện một bảng phân loại thảm thực vật rừng Nam Trường Sơn. Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt nam về thảm thực vật rừng ở Việt nam là bản phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng thuộc tổng cục lâm nghiệp Việt nam, bảng phân loại này xây dựng năm 1960, theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt nam được chia làm 4 loại hình lớn: Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng. Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa. Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh nên trở thành nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo.
Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý.Phân loại này không phân biệt được kiểu rừng nguyên sinh với các kiểu phụ thứ sinh và các giai đoạn diễn thế. Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở miền bắc Việt nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao Trong mỗi đai, phân các kiểu thảm thực vật rừng, mỗi kiểu phân thành các loại hình khí hậu, các kiểu phụ thổ nhưỡng và kiểu phụ thứ sinh. Những kiểu này được đại diện bằng một hai loài cây ưu thế. Công trình nghiên cứu phân loại của Trần Ngũ Phương cho thấy các kiểu rừng khí hậu, kiểu phụ thổ nhưỡng, kiểu phụ thứ sinh đều là các kiểu rừng hỗn loại đa dạng, phức tạp với nhiều loài cây, loài ưu thế không rõ.
Trừ những trường hợp đất đai đặc biệt (lầy mặn, cát) chỉ số ít loài sinh sống được mới tạo nên ưu thế rõ rệt. Năm 1970, Thái Văn Trừng công bố hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Đây là công trình phân loại rừng hoàn chỉnh và có nhiều căn cứ xác đáng. Căn cứ trên 5 nhân tố phát sinh : Nhóm nhân tố địa lý- địa hình (vĩ độ, độ cao) Nhóm nhân tố khí hậu - thuỷ văn ; Chế độ nhiệt , chế độ ẩm.
Nhóm khu hệ thực vật. Nhóm nhân tố đá mẹ - thổ nhưỡng. Nhóm nhân tố sinh vật - con người. Ông đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam được chia thành 14 kiểu thảm thực vật.
Trong mỗi kiểu, căn cứ vùng địa lý, các nhân tố sinh thái phát sinh quần thể, hình thái cấu trúc quần hệ; thành phần loài cây và các kiểu phụ, các ưu hợp thực vật; chia kiểu phụ miền thực vật. Trong 14 kiểu rừng, kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới là kiểu phong phú nhất. Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn Trừng đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt nam trên quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt nam phù hợp nhất trên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 quan điểm sinh thái cho đến nay. Thái Văn Trừng (1978) đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn: quần lạc thân gỗ kín tán, quần lạc thân gỗ thưa, quần lạc thân cỏ kín rậm, quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc.
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973) đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nan thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau.