Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Lâm Đồng và vấn đề đa dạng hóa dịch vụ phi tín dụng. Chương 3: Tổng quan về dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng thương mại. Chương 4: Phân tích thực trạng hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương – Chi Nhánh Lâm Đồng 2014 – 2018 và xác định nguyên nhân của hoạt động dịch vụ tại Chi nhánh.
Chương 5: Giải pháp đa dạng hóa dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương – Chi Nhánh Lâm Đồng.Đóng góp về ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Môi trường kinh doanh của ngành ngân hàng đứng trước nhiều thách thức do các yêu cầu khắc khe hơn về vốn, tỷ lệ an toàn đặc biệt ở các thị trường đang phát triển với tốc độ tăng về quy mô tương đối cao, tăng trưởng tín dụng, kéo theo đó là tăng trưởng thu nhập thuần từ lãi có xu hướng giảm tốc khi nền kinh tế bước vào giai đoạn ổn định, cùng với áp lực cạnh tranh cao. Với mức độ rủi ro và tỷ lệ sử dụng vốn tương đối thấp hơn so với các hoạt động tín dụng, nguồn thu chủ yếu từ phí, ổn định và gần như phi rủi ro, việc đa dạng hóa dịch vụ phi tín dụng và tăng thu nhập từ dịch vụ giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập, phân tán rủi ro để bảo đảm phát triển ổn định. Việc đa dạng hóa hoạt động phi tín dụng góp phần hỗ trợ ngược lại cho hoạt động tín dụng. Các dịch vụ ngân hàng thường được cung cấp theo gói dịch vụ, do vậy việc đa dạng hóa dịch vụ để gia tăng các tiện ích và sự hài lòng cho khách hàng sẽ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 giúp thu hút, giữ chân khách hàng trong các mảng kinh doanh khác.
Ngoài ra, các ngân hàng còn tận dụng được nguồn vốn giá rẻ từ tài khoản thanh toán của khách hàng và từ đó cải thiện lơi nhuận. Hoạt động kinh doanh dịch vụ góp phần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, từ đó thu hút và mở rộng đến nhiều đối tượng khách hàng. Các điều kiện hiện nay và xu hướng phát triển có những yếu tố thuận lợi cho việc đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng như sự phát triển của công nghệ thông tin, sự thay đổi cơ cấu dân số, hành vi của người tiêu dùng. Vì vậy, đa dạng hóa dịch vụ phi tín dụng là cần thiết, xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tiễn hoạt động kinh doanh cũng như đinh hướng phát triển của Vietcombank mà Ban lãnh đạo đã đề ra.
Việc đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng sẽ tạo nền tảng để phát triển hoạt động dịch vụ và tăng thu nhập từ dịch vụ, góp phần vào sự phát triển ổn định bền vững của Vietcombank nhằm hướng tới các mục tiêu phát triển cao hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 TÓM TẮT CHƯƠNG 01 Môi trường kinh doanh của ngành ngân hàng đứng trước nhiều thách thức do các yêu cầu khắt khe hơn về vốn, tỷ lệ an toàn cùng với áp lực cạnh tranh cao. Với mức độ rủi ro và tỷ lệ sử dụng vốn tương đối thấp hơn so với hoạt động tín dụng, việc đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng và tăng thu từ dịch vụ giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập, phân tán rủi ro để đảm bảo phát triển ổn định. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH LÂM ĐỒNG VÀ VẤN ĐỀ ĐA DẠNG HÓA DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG.Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Lâm Đồng (Vietcombank Lâm Đồng): 2.1 Giới thiệu Vietcombank Lâm Đồng: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Lâm Đồng (tên cũ là chi nhánh Đà Lạt) được nâng cấp thành chi nhánh cấp 1 theo Quyết định số 876/QĐ- NHNT.TCCB-ĐT ngày 28/11/2006 của Hội đồng quản trị Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trên cơ sở điều chỉnh, nâng cấp chi nhánh cấp 2 Đà Lạt thuộc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
Trụ sở chính khi được thành lập nằm tại số 06 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 1, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tổ chức bộ máy ban đầu của Chi nhánh bao gồm: Ban Giám đốc, Phòng Kế toán – Thanh toán và Dịch vụ, Phòng Quan hệ khách hàng, Phòng Ngân quỹ, Tổ Kiểm tra nội bộ. Đến nay, tổng số nhân viên tại Chi nhánh là 108 người với bộ máy gồm: Ban Giám đốc: 3 người, Phòng Hành chính nhân sự: 8 người, Phòng Kế toán: 5 người, Phòng Quản lý nợ: 7 người, Phòng Khách hàng doanh nghiệp: 7 người, Phòng Khách hàng bán lẻ: 11 người, Phòng Dịch vụ khách hàng: 12 người, Phòng Ngân quỹ: 6 người, Phòng Giao dịch Hòa Bình: 10 người, Phòng Giao dịch Đức Trọng: 11 người, Phòng Giao dịch Lâm Hà: 9 người, Phòng Giao dịch Bảo Lộc: 11 người, Phòng Giao dịch Đơn Dương: 7 người.Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank Lâm Đồng 2014 – 2018: Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh VCB Lâm Đồng 2014 – 2018 Chỉ tiêu ĐVT 2014 2015 2016 2017 2018 Tỷ Huy động vốn đồng 2,096.00 Tỷ Dư nợ tín dụng đồng 1,671.00 Tỷ lệ nợ xấu % 1.08 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Doanh số TTXNK & Triệu TTTM USD 52.00 Doanh số mua Triệu bán ngoại tệ USD 28.92 Số dư Bảo lãnh Tỷ bình quân đồng 15.93 Thu phí Tỷ Bancassurrance đồng 0.50 Doanh số thanh Tỷ toán thẻ đồng 185.00 Doanh số sử Tỷ dụng thẻ đồng 394.00 Phát hành thẻ tín dụng Thẻ 1,097.00 Số lượng đơn vị Khách chấp nhận thẻ hàng 231.00 Online Khách B@nking hàng 5,337.00 Khách SMS Ba@nking hàng 12,204.00 Lợi nhuận trước Tỷ Dự phòng rủi ro đồng 0.60 Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán VCB Lâm Đồng 2014 – 2018 Từ số liệu bảng 2.1 cho thấy, các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của Vietcombank Lâm Đồng đều khả quan, có sự tăng trưởng đáng kể: Huy động vốn tăng đều qua các năm: năm 2014: 2,096 tỷ, năm 2015: 2,567 tỷ, năm 2016: 3,182 tỷ, năm 2017: 3,998 tỷ, năm 2018: 4,405 tỷ, tốc độ tăng trưởng huy động vốn năm 2018 so với năm 2014 là 1.1% TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Dư nợ tín dụng cũng tăng qua các năm: từ 1,671 tỷ năm 2014, tăng lên 5,016 tỷ năm 2018. Mức tăng trưởng dư nợ cao, cùng với tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát tốt và giảm dần từ 1% năm 2014, đến năm 2018 chỉ còn 0.
Các chỉ tiêu hoạt động dịch vụ cũng tăng nhưng chưa đều, chưa phát huy hết được thế mạnh của Vetcombank Lâm Đồng. Lợi nhuận trước dự phòng rủi ro tăng vượt bậc: năm 2014 chỉ đạt 0.66 tỷ đồng, năm 2016 đạt mức cao nhất từ trước đến nay là 244.Hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương – Chi nhánh Lâm Đồng: Những năm gần đây, môi trường kinh tế thế giới có nhiều biến động, nó tác động chung đến toàn thể các quốc gia trên thế giới, kinh tế thế giới ngày càng trở nên minh bạch hơn nhờ những hiệp định, những hợp tác song phương, đa phương. Ở Việt Nam, mặc dù chúng ta vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng (GDP năm 2015 tăng 6.68%), nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn. Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu với kinh tế thế giới, những rào cản ngày càng được tháo bỏ, sân chơi được mở rộng, đặt ra yêu cầu đổi mới cho nền kinh tế Việt Nam và hệ thống ngân hàng nói riêng.
Tái cấu trúc hệ thống tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc ngân hàng thương mại giai đoạn 2011 – 2015 đã và đang được tiến hành với hàng loạt vụ mua bán và sáp nhập những ngân hàng yếu kém. Bên cạnh đó, các ngân hàng trong nước còn phải vấp phải sự cạnh tranh của những ngân hàng nước ngoài có nhiều lợi thế cũng là thách thức không nhỏ cho những ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Kể từ năm 2011 đến nay, sau giai đoạn tăng trưởng nóng về tín dụng tại các ngân hàng ở đủ các cấp độ quy mô, điều này mang lại cho hệ thống ngân hàng Việt Nam những tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng và giải quyết được cơn khát vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sau khi tăng trưởng về chiều rộng, thị phần bắt đầu bão hòa đi kèm với nợ xấu tăng cao, chất lượng tín dụng thấp, các ngân hàng thương mại bắt đầu quan tâm hơn đến tăng trưởng về chiều sâu và quan tâm nhiều hơn đến những dịch vụ phi tín dụng.
Các sản phẩm phi tín dụng mà các ngân hàng cung ứng đã mang lại sự tiện ích và hài lòng cho khách hàng. Các sản phẩm này cũng là nguồn thu an toàn và ổn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 định cho các Ngân hàng thương mại, mặc dù tỷ trọng thu nhập từ các sản phẩm của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn khá thấp so với hệ thống các ngân hàng thương mại của các nước trên thế giới. Để có thể tồn tại và phát triển trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay, các ngân hàng thương mại phải tìm ra giải pháp nhằm nâng tỷ lệ phí trên tổng doanh thu, đem đến sự phát triển bền vững cho chính các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chính vì vậy, cuộc đua cạnh tranh về chất lượng cũng như làm hài lòng khách hàng giữa các ngân hàng thương mại đang được đẩy lên cao trào.
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng 11/2016, tại Việt Nam có 31 Ngân hàng thương mại cổ phần; 61 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; 3 ngân hàng liên doanh. Có thể thấy rằng, thị trường ngân hàng Việt Nam đang chứng kiến sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Để có thể tồn tại được khi mà cần phải hạn chế tín dụng, các sản phẩm trong lĩnh vực ngân hàng hầu như giống nhau thì yếu tố: Chất lượng là yếu tố chủ chốt để mang lại thành công cho các ngân hàng thương mại trong nước. Nhận thức được những khó khăn trên, Vietcombank trong những năm gần đây đã có những thay đổi tích cực để đáp ứng với xu thế của thị trường.
Để thu hút và giữ chân lượng khách hàng tới giao dịch tại đây, ngân hàng đã đưa ra các đề xuất để nâng cao chất lượng, đồng thời cũng triển khai cung ứng những sản phẩm mới nhất của hệ thống Vietcombank trên toàn quốc.