CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH BẢN ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1. Khái quát chung về cưỡng chế THADS và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại 1. Khái niệm cưỡng chế THADS và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại 1. Khái niệm cưỡng chế THADS THADS là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên đã được BA, QĐ của Tòa án ghi nhận.
Trong THADS, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo BA, QĐ của Tòa án. Tự nguyện THADS đã trở thành một nguyên tắc, biện pháp quan trọng trong hoạt động THADS. Khi người phải THA được Chấp hành viên giải thích, thuyết phục tự nguyện THA nhưng vẫn tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh để không tự nguyện thi hành, thì buộc cơ quan THADS phải tổ chức cưỡng chế thi hành. Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2020 không định nghĩa biện pháp cưỡng chế THADS nhưng theo khoản 2 Điều 9 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2020 thì ngời phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế THA theo quy định của Luật THADS.
Tại Điều 45, 46 Luật THADS cũng quy định sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA, có điều kiện THA mà không tự nguyện THA hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc THA thì Chấp hành viên có quyền áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế THA. Như vậy, có thể hiểu khái niệm cưỡng chế THADS là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của các cơ quan có thẩm quyền THA, do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải THA phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài 12 sản theo BA, QĐ. Cưỡng chế THA được áp dụng trong trường hợp người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc THA2. Cách hiểu này tuy chỉ mang tính tương đối nhưng đã xác định được: Chủ thể áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS là Chấp hành viên cơ quan THADS được trao quyền áp dụng trong từng vụ việc THADS cụ thể.
Khách thể của biện pháp cưỡng chế THADS là trật tự thực thi những BA, QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đối tượng của biện pháp cưỡng chế THADS là Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân… là người phải THA thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tiền, tài sản theo BA, QĐ của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Phương tiện của biện pháp cưỡng chế THADS là quyền lực Nhà nước được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật về THADS Mục đích của áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS là ngăn chặn người phải THA tẩu tán, hủy hoại tài sản và đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, các tổ chức và công dân, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội. Khái niệm cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại Những năm gần đây do khủng hoảng của nền kinh tế, kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tốc độ phục hồi kinh tế chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro, tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng gay gắt dẫn đến các BA, QĐ về kinh doanh thương mại của Tòa án ngày càng tăng cao.
Do đó việc thi hành Bản án kinh doanh thương mại đang trở thành thách thức lớn đối với các cơ quan THADS, nhất là quá trình cưỡng chế THA, một biện pháp nghiêm khắc, dùng quyền lực Nhà nước buộc tổ chức, cá nhân nhất định phải tuân theo. Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự thì những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm: 2 Học viện Tư pháp, Giáo trình Nghiệp vụ THADS tập 1, Nxb Tư pháp, tr. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty. Tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”. Sau khi BA, QĐ của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan THADS sẽ chủ động tổ chức thi hành đối với phần BA, QĐ về án phí, lệ phí, tịch thu sung quỹ nhà nước… theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 Luật THADS khi nhận được BA, QĐ do Toà án chuyển giao; đối với phần THA theo yêu cầu, cơ quan THADS sẽ ra quyết định và tổ chức thi hành khi nhận được yêu cầu THA theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật THADS.
Cũng giống như cưỡng chế THADS, cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại cũng do chủ thể có thẩm quyền THA dùng quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định pháp luật về THADS đối với cá nhân, doanh nghiệp khi “người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế THA theo quy định”3, nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. 3 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020), Luật THADS, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 14 Tuy nhiên, có thể thấy khách thể của biện pháp cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại hẹp hơn khách thể của biện pháp cưỡng chế THADS do khách thể của biện pháp cưỡng thế thi hành Bản án kinh doanh thương mại chỉ là trật tự thực thi những Bản án kinh doanh thương mại của Toà án có hiệu lực pháp luật, không bao gồm tất cả những BA, QĐ của Toà án. Như vậy có thể hiểu khái niệm cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại là biện pháp dùng quyền lực nhà nước, nhằm buộc người phải THA thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tiền, tài sản theo Bản án kinh doanh thương mại có hiệu lực pháp luật của Toà án, do Chấp hành viên cơ quan THADS quyết định áp dụng theo thẩm quyền trong trường hợp người phải THA có điếu kiện THA, đã được thông báo hợp lệ, đã hết thời gian tự nguyện THA mà không tự nguyện thi hành, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA tẩu tán, huỷ hoại tài sản.
Đặc điểm cưỡng chế THADS và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại có những đặc điểm chung của cưỡng chế THADS. Đồng thời cũng mang đặc điểm riêng của việc cưỡng chế trong thi hành Bản án kinh doanh thương mại 1. Đặc điểm chung của biện pháp cưỡng chế THA Thứ nhất, cưỡng chế THADS thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước. Biện pháp cưỡng chế THADS phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện.
Ở nước ta, thẩm quyền tổ chức cưỡng chế THADS thuộc về cơ quan THADS Thứ hai, cưỡng chế THADS được thực hiện theo quy định của pháp luật. Mọi hành vi gây cản trờ, chống đối việc cưỡng chế THADS đều có thể bị phạt tiền hoặc bị đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thứ ba, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS phải căn cứ vào nội dung BA, QĐ; quyết định THA; tính chất, mức độ, nghĩa vụ THA; điều kiện của nguời phải THA; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THA. 15 Thứ tư, chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi hết thời gian tự nguyện THA trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ THA.
Ngoài ra, Chấp hành viên không được tổ chức cưỡng chế THA có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau Tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách là người phải THA; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương. Thứ năm, đối tượng của cưỡng chế THADS là tài sản hoặc hành vi của người phải THA và được thực hiện trong trường hợp người phải THA có điều kiện thi hành. Thứ sáu, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS, ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ theo BA, QĐ của Toà án, người phải THA còn phải chịu chi phí cưỡng chế THA. Thứ bảy, các biện pháp cưỡng chế THADS không chỉ có hiệu lực với người phải THA mà còn có hiệu lực với cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan.
Thứ tám, việc tổ chức cưỡng chế THADS phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải THA và các chi phí cần thiết khác. Chấp hành viên phải ước tính giá trị tài sản để làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS. Trường hợp người phải THA chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải THA mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế THA.