lời mở đầu, phần nội dung và kết luận. Riêng phần nội dung chính được trình bày thành 03 chương như sau: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay.
Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CƢỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng pháp luật về cƣỡng chế thi hành án dân sự 1.
Khái niệm áp dụng pháp luật về cƣỡng chế thi hành án dân sự 1.Khái niệm Thi hành án và Thi hành án dân sự Hiện nay, khoa học pháp lý ở Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể thế nào là Thi hành án và Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu một vài tài liệu chuyên khảo cho thấy, đa số các học giả đều cho rằng: “Thi hành án là quá trình đưa pháp luật của nhà nước ra thi hành trên thực tế và do một cơ quan hoặc cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện”. Theo hướng tiếp cận đó, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thi hành án dân sự. Quan điểm thứ nhất cho rằng: THADS là hoạt động tố tụng.
Vì: "Có xét xử thì phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở của của công tác xét xử. Xét xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự" [19, tr43]. Quan điểm thứ hai cho rằng: THADS không phải là hoạt động tố tụng, bởi thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng, Thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Thi hành án mang bản chất của hoạt động hành chính – tư pháp.
[20,tr1] Nhìn chung, các quan điểm nêu trên mặc dù chưa lột tả được toàn diện về thuật ngữ THA dân sự, song đều được xây dựng trên những cơ sở khoa học riêng, có sự đầu tư và nghiên cứu nghiêm túc. Tuy nhiên, để làm rõ thuật ngữ này, theo tác giả chúng ta cần hiểu rõ mục đích, ý nghĩa vai trò của THA, trên cơ sở đó đưa ra khái niệm phù hợp với thực tiễn và phản ánh toàn diện, đầy đủ về hoạt động này. Mục đích của THADS là đưa bản án, quyết định của tòa án và các cơ quan có thẩm quyền khác ra thi hành trên thực tế. Ý nghĩa của THA là đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của người dân, cá nhân, tố chức và nhà nước.
Đồng thời đảm bảo tính công 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng, nghiêm minh của pháp luật. Và cao hơn nữa là ổn định trật tự chính trị - xã hội, làm cơ sở để xây dựng và phát triển kinh tế quốc gia. Xuất phát từ đó, chúng ta không nhất thiết phải coi THA là hoạt động tố tụng, hay là hoạt động tư pháp hoặc là hoạt động hành chính – tư pháp. Bởi thực chất nếu nó là hoạt động gì đi nữa thì mục đích, ý nghĩa của nó mang lại chỉ có một.
Chính vì vậy chúng ta cần hiểu một cách đơn giản nhất về khái niện này như sau: Thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan, tổ chức được nhà nước trao quyền để thực hiện hoạt động đưa bản án, quyết định của Tòa án hay của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác ra thi hành trên thực tế, đảm bảo quyền, lợi ích cho cá nhân, cơ quan, tổ chức và nhà nước, được pháp luật bảo vệ. Khái niệm biện pháp cƣỡng chế thi hành án dân sự và áp dụng pháp luật về cƣỡng chế thi hành án dân sự Qua nghiên cứu, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về thuật ngữ cưỡng chế. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản thanh niên ấn hành năm 2001 “cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc người khác phải tuân theo”[30,tr196]. Theo cuốn Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa ấn hành năm 1999 thì cưỡng chế được giải thích là “những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”[31,tr323].
Theo cuốn Đại Từ điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 1998 thì cưỡng chế là “ bắt buộc phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực: tính chất cưỡng chế của pháp luật ” [38, tr499]. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của thuật ngữ “Cưỡng chế” nhưng suy cho cùng: Cưỡng chế Nhà nước là cách sử dụng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức thực hiện hoặc không thực hiên một công việc nhất định trái với ý muốn của họ. Hiện nay, pháp luật về THADS chưa có định nghĩa về khái niệm cưỡng chế THADS mà chỉ có các quy định về đối tượng cưỡng chế, điều kiện cưỡng chế và cách thức thực hiện các biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định đó, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả cho rằng: Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cuối cùng của hoạt động thi hành án dân sự, do Chấp hành viên hoặc Thừa phát lại thực hiện, nhằm buộc người phải THA, người có nghĩa vụ liên quan phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, được áp dụng trong trường hợp người phải THA có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành trong thời hạn ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn sự tẩu tán, hủy họa tài sản.
Thực tế cho thấy, hiệu quả cưỡng chế THADS phụ thuộc rất nhiều vào việc áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS. Thế nhưng, áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS là gì? là như thế nào? thì đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra một câu trả lời cụ thể. Theo lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật thì áp dụng pháp luật là một trong những hình thức quan trọng của việc thực hiện pháp luật. Đó chính là hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể khái quát khái niệm áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS như sau: Áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS là hình thức thực hiện các quy định của pháp luật về cưỡng chế THADS, do chủ thể là CHV hoặc TPL tiến hành bằng cách ban hành các quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự và tổ chức thi hành quyết định đó để buộc người phải THA, người được THA, những cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan phải thực hiện hoặc không được thực hiện hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Trên cơ sở đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ về tài sản, về dân sự của người phải THA, người được THA, những cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan. Đặc điểm của áp dụng pháp luật về cƣỡng chế thi hành án dân sự Cưỡng chế THADS là một loại hình cưỡng chế do các cá nhân được nhà nước giao quyền thực hiện, vì vậy nó vừa mang những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng như sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Áp dụng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự hướng đến nhiều chủ thể khác nhau: Kết quả nghiên cứu cho thấy, áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS hướng đến các loại chủ thể như sau: Thứ nhất là chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS; Thứ hai là những chủ thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Theo quy định của Luật THADS và Nghị quyết số 107/2015/NQ-QH ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định TPL thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS là CHV của cơ quan THADS và TPL của Văn phòng TPL. Khi áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS, CHV và TPL được ban hành quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện quyết định đó. Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS và áp dụng pháp luật khác như: Luật THA Hình sự, Luật Tố tụng Hành chính….Bởi, chủ thể có thẩm quyền ban hành và thực hiện quyết định cưỡng chế hình sự hay cưỡng chế hành chính là những người có chức vụ, có quyền quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan có thẩm quyền, những người đó thường là: Thủ trưởng cơ quan, Chủ tịch UBND các cấp. Tuy nhiên, đối với áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS, chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể là những người trong biên chế của cơ quan nhà nước (CHV cơ quan THADS), nhưng cũng là những người ở các doanh nghiệp tư nhân (Văn phòng Thừa phát lại).
Ngoài ra, sự khác biệt giữa áp dụng pháp luật về THADS với các hình thức áp dụng pháp luật khác… còn được biểu hiện ở chủ thể (đối tượng) bị áp dụng cưỡng chế. Theo quy định của pháp luật về THADS đối tượng chủ yếu bị cưỡng chế THADS là người phải THA (Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành[2, khoản 3 Điều 3]), tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể đối tượng bị cưỡng chế còn được mở rộng đến các đối tượng khác, gồm: Một là, người đang giữ tài sản, giấy tờ của người phải THA, gồm: Người thứ ba đang giữ tài sản của người phải THA (Điều 91, Luật THADS) hoặc người thứ ba đang giữ giấy tờ phải giao, trả của người phải THA được xác định trong khoản 1, Điều 116, Luật THADS. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hai là, người được THA. Đây là chủ thể đặc biệt được pháp luật bảo vệ về quyền tài sản, quyền nhân thân và trách nhiệm cơ quan thi hành án dân sự là phải thi hành theo yêu cầu thi hành án của họ.