Chương 1: Một số vấn đề chung về cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự. - Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự ở Việt Nam. - Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƢỠNG CHẾ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm cƣỡng chế Trong từ điển chữ Nôm có giải nghĩa, cưỡng là thúc ép, buộc tuân theo ý chí của mình [38, tr.381], chế là kìm giữ [38, tr. Như vậy cưỡng chế là một từ ghép được tạo bởi hai từ có nghĩa nêu trên. Cưỡng chế có thể được hiểu là thúc ép, buộc ai đó phải thực hiện theo. Theo Cuốn từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa năm 2012 thì: Cưỡng chế là dùng quyền lực Nhà nước bắt phải tuân theo pháp luật” [40, tr.
Trong tiếng Anh cưỡng chế là Coerce nghĩa là buộc ai phải làm cái gì [35, tr. Về mặt thuật ngữ pháp lý, cưỡng chế là buộc cá nhân hoặc tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cưỡng chế phải được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ, biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất và tinh thần, thường được áp dụng khi quyết định đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện [46]. Theo cuốn Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa ấn hành năm 1999 thì cưỡng chế là “những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006 thì cưỡng chế là: Buộc cá nhân hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chỉ tổ chức hay cá nhân được pháp luật quy định mới 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được ra quyết định cưỡng chế, quyết định lực lượng cưỡng chế. Cưỡng chế phải được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ. Cá nhân hay tổ chức là đối tượng cưỡng chế có thể bị buộc phải làm hay không được làm một việc nhất định về quyền tài sản hay quyền nhân thân.
Biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất hoặc tinh thần, thường được áp dụng khi quyết định đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện. Như vậy, mỗi quan niệm cưỡng chế đều có những nội dung khác nhau nhưng có thể thấy rằng các quan niệm đều có điểm chung là dùng quyền lực nhà nước, áp đặt ý chí của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân nhất định để buộc tổ chức, cá nhân đó phải thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định theo ý chí của Nhà nước. Để bảo đảm thực thi pháp luật, ngoài phương thức giáo dục, thuyết phục mọi chủ thể tự giác tuân thủ, bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng sức mạnh cưỡng chế bằng pháp luật. Cưỡng chế là khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước và pháp luật, là hiện tượng gắn liền với Nhà nước.
Cưỡng chế khác với các biện pháp ngăn chặn hay đảm bảo ở chỗ toàn bộ quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế là việc buộc chủ thể không tự nguyện phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Biện pháp cưỡng chế là biện pháp giải quyết mang tính bạo lực của Nhà nước, nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định được thi hành, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Như vậy, có thể hiểu khái niệm của cưỡng chế như sau: “Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước buộc tổ chức, cá nhân nhất định phải tuân theo, bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện bởi biện pháp nhất định và do chủ thể có thẩm quyền tiến hành”. Khái niệm, đặc điểm cƣỡng chế thi hành án dân sự 1.
Khái niệm về cưỡng chế thi hành án dân sự Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những phương pháp nghiêm khắc được sử dụng trong hoạt động quản lý nhà nước. Trong nhà nước Pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của Nhà nước, duy trì trật tự xã hội. Nhà nước thực hiện cưỡng chế thông qua nhiều biện pháp cưỡng chế, những biện pháp cưỡng chế này được Nhà nước trao quyền cho các cơ quan Nhà nước khác nhau thực hiện như cưỡng chế hành chính, cưỡng chế trong hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và Tòa án và cưỡng chế thi hành án dân sự. Trong hoạt động thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự cũng được Nhà nước trao quyền cho sử dụng một số biện pháp cưỡng chế, quy định tại điều 71 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 [25].
Giáo trình kỹ năng về thi hành án dân sự (phần chung) của Học viện Tư pháp, xuất bản năm 2012, đã nêu rõ cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan Thi hành án dân sự, do chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định. Cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành và hết thời gian tự nguyện mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ theo nội dụng của bản án, quyết định của Tòa án hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án [17, tr. Theo tài liệu bồi dưỡng Chấp hành viên Trung cấp cũng định nghĩa cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án. Biện pháp cưỡng chế do chấp hành viên quyết định trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án [19, tr.
Cưỡng chế thi hành án dân sự có đặc trưng chung của cưỡng chế thi 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành án nhưng cũng có đặc thù. Cưỡng chế thi hành án dân sự bao giờ cũng sử dụng quyền lực nhà nước để buộc cá nhân, tổ chức liên quan trực tiếp đến việc thực hiện bản án, quyết định, cho dù đó có thể là người được thi hành án, người phải thi hành án hay cá nhân, tổ chức khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự. Nói đến cưỡng chế thi hành án dân sự là nói đến việc dùng quyền lực nhà nước để thi hành án dân sự. Việc dùng quyền lực nhà nước trong cưỡng chế thi hành án dân sự phải thông qua chủ thể nhất định tiến hành bằng những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự cụ thể.
Chủ thể tiến hành cưỡng chế thi hành án dân sự là chức danh cụ thể bởi vì tính chất đặc thù của thi hành án dân sự là do chức danh cụ thể tiến hành việc thi hành án dân sự, ở Việt Nam hiện nay đó là chấp hành viên và thừa phát lại. Cưỡng chế thi hành án dân sự được đặt ra và tiến hành với mục đích cụ thể là tổ chức thi hành việc thi hành án dân sự nhưng mục đích chung là thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, bảo đảm hiệu lực thi hành của bản án, quyết định đó. Như vậy, từ những nhận định trên có thể định nghĩa: “Cưỡng chế thi hành án dân sự là việc chủ thể có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm thi hành trên thực tế quyền, nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự”. Đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự Cưỡng chế thi hành án dân sự mang những đặc điểm sau: Thứ nhất, cưỡng chế thi hành án dân sự mang tính quyền lực.
Cũng như nhiều loại cưỡng chế khác (cưỡng chế hành chính, cưỡng chế thi hành án hình sự và cưỡng chế thi hành án hành chính), cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền lực nhà nước, chỉ có cá nhân thuộc cơ quan chức năng của 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà nước hoặc người thuộc tổ chức được Nhà nước trao quyền mới có thẩm quyền tiến hành cưỡng chế. Quyền lực nhà nước được thể hiện thông qua cưỡng chế thi hành án dân sự bằng việc chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế buộc cá nhân, tổ chức nhất định phải chấp hành để thi hành bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, nếu không chấp hành thì sẽ bị xử lý nghiêm bằng các phương thức như xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại nếu có, hoặc các biện pháp buộc khắc phục hậu quả. Cưỡng chế thi hành án dân sự bắt buộc các tổ chức, cá nhân tôn trọng và phối hợp thực hiện bản án, quyết định, kể cả sử dụng lực lượng chuyên chính là cảnh sát để bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự, trấn áp những cá nhân có hành vi chống đối cưỡng chế thi hành án dân sự.