CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái quát về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự 1. Khái quát chung về thi hành án dân sự Thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực hiện các bản án, quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (Sau đây gọi chung là bản án, quyết định) [18, Điều 1].
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động thi hành án dân sự. Quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động hành chính; quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động hành chính - tư pháp; quan điểm thứ ba cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, thi hành án dân sự là một dạng hoạt động hành chính- tư pháp bởi lý do: - Tính hành chính thể hiện ở chỗ: Thi hành án là dạng hoạt động mang tính chấp hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, toàn bộ quá trình thi hành án với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của Tòa án và 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo các quy định cụ thể của pháp luật. Bên cạnh đó, thi hành án là dạng hoạt động quản lý vì thi hành án là sự tác động của pháp luật, của các cơ quan thi hành án tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án; phải tuân theo các quy định của pháp luật.
- Tính tư pháp thể hiện ở chỗ: Thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp vì xét xử, giải quyết tranh chấp và thi hành án dân sự là hai mặt của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, thi hành án dân sự mang tính độc lập đặc trưng của hoạt động tư pháp và do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thực hiện. Cưỡng chế trong thi hành án dân sự Theo quy định của pháp luật, bản án, quyết định của Tòa án là nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện quyền lực nhà nước. Khi bản án, quyết định được ban hành và có hiệu lực pháp luật thì tất cả các chủ thể có liên quan có nghĩa vụ phải chấp hành nghiêm chỉnh phán quyết đó. Tuy nhiên, không phải lúc nào các phán quyết đều được các chủ thể chấp hành trên thực tế.
Vì vậy, để đảm bảo các phán quyết được thi hành trên thực tế, bảo vệ lợi ích của các chủ thể cần thiết phải quy định các biện pháp cưỡng chế cụ thể và trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Việc thực hiện các quy định này là phương tiện để thực hiện quyền lực nhà nước đồng thời là phương tiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan trong thi hành án. Thi hành án dân sự là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương sự đã được xác định trong các bản án quyết định được đưa ra thi hành. Do vậy, trong thi hành án dân sự, động viên, thuyết phục các đương sự tự nguyện thi hành án được coi là biện pháp quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mặc dù có điều kiện thi hành án nhưng vẫn không tự nguyện thi hành trong thời gian mà cơ quan thi hành án đã ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án. Trong trường hợp này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, bảo đảm cho bản án, quyết định được thi hành nghiêm chỉnh thì việc cưỡng chế thi hành án là hết sức cần thiết. Theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án do Chấp hành viên ấn định, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không thi hành án, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những việc trái với ý muốn của họ.
Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước. Trong nhà nước pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật tự xã hội. [2,tr 232] Như vậy, cưỡng chế thi hành án dân sự là một biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ được xác định trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp mặc dù người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành án hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự Khoản 1 Điều 104 Luật Đất đai năm 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận đối với tài sản gắn liền với đất, như sau: “Tài sản gắn liền với đất được 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
Như vậy, theo quy định của pháp luật, tài sản gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Từ những quy định trên có thể hiểu: Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc do Chấp hành viên thực hiện khi người phải thi hành án có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, mặc dù có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành, nhằm chuyển quyền quản lý, sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ người phải thi hành án sang người được thi hành án để thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực. Đặc điểm biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự Thứ nhất; cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thể hiện quyền lực của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước [2, tr 233]. Việc cưỡng chế thi hành án nói chung và cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói riêng là nhân danh nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình, nên phải được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Các tổ chức, cá nhân khác không có quyền tự mình dùng sức mạnh để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định. Ở nước ta, trước đây thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự được giao cho các cơ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan thi hành án dân sự. Trong quá trình tổ chức thi hành án chỉ có Chấp hành viên đại diện cho cơ quan thi hành án dân sự là chủ thể có thẩm quyền lựa chọn các biện pháp cưỡng chế và ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phù hợp. Hiện nay, theo xu thế xã hội hóa thi hành án dân sự, hoạt động thi hành án nói chung và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng còn được giao cho Thừa phát lại.
Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 quy định như sau: “Điều 3. Công việc Thừa phát lại được làm. Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự. Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự. Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.” Tuy nhiên, từ khi Thừa phát lại được tổ chức thí điểm và đi vào hoạt động trên cả nước thì hoạt động tổ chức thi hành án dân sự của Thừa phát lại còn rất hạn chế. Theo số liệu thống kê, từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/07/2018, các Văn phòng Thừa phát lại mới thực hiện xác minh điều kiện thi hành án 70 vụ và trực tiếp tổ chức thi hành án 195 vụ việc.