Chương 1 CỤM TỪ CÂN ĐỐI – THÓI QUEN DIỄN ĐẠT CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN 1. Khái lược về cụm từ cân đối 1. Khái niệm cụm từ cân đối Cụm từ cân đốilà cách gọi tên của ngữ có cấu trúc cân đối gồm hai vế. Mỗi vế, ngoài số chữ trong bằng nhau, số chữ chẵn (có thể là bốn chữ, có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 là sáu chữ), hài hòa cân đối về đối thanh đối ý, tạo ra tính nhạc trong câu.
Cụm từ cân đối yêu cầu phải đối về thanh điệu và đối về từ loại [25,tr. Ví dụ:“Ăn vóc học hay”, “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”. Các câu trên có cấu trúc gồm hai vế với số chữ bằng nhau, đối thanh điệu rất rõ ràng, ở cụm từ cân đối 4 chữ: “Ăn vóc học hay”, thanh trắc “vóc” đối với thanh bằng “hay”. Trong cụm từ cân đối 6 chữ: “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”, các chữ trong câu bằng nhau có sự cân đối hài hòa, bắt vần với nhau và cùng thanh điệu: “nồi”- “ngồi”.
Trong ví dụ cụm từ cân đối 6 chữ có xuất hiện đối về từ loại: danh từ “nồi” đối với danh từ “hướng” Hình thức của cụm từ cân đối khá đa dạng có thể là cụm từ cân đối 4 chữ, cụm từ cân đối 6 chữ, cụm từ cân đối 8 chữ. Ví dụ: Cụm từ cân đối 4 chữ: “Ăn chắc mặc bền”, “Cơm lành canh ngọt”, “ Con dại cái mang”, “Cờ bí dí tốt”, “Cốc mò cò xơi”, “Chó treo mèo đậy”… Cụm từ cân đối 6 chữ:“Buôn có bạn bán có phường”, “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, “Của một đồng công một nén”, “Đâm bị thóc chọc bị gạo”… Cụm từ cân đối 8 chữ: “Một lần ngại tốn, bốn lần chẳng xong”,“Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”, “Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa”… Các từ trong cụm từ cân đối phải bắt vần với nhau, có thể là vần liền kề hoặc cách vần. Vần liền kề có thể là 2 vần bằng, và có thể là 2 vần trắc. Trong ví dụ về cụm từ cân đối 4 chữ, các chữ ở 2 vế có số tiếng bằng nhau.
Các từ trong câu là vần liền kề bắt vần với nhau. Chẳng hạn, trong “Chó treo mèo đậy”, vần “eo” (treo – mèo) nằm liền kề và bắt vần với nhau cùng vần bằng trong câu “Cốc mò cò xơi”. Hoặc trong cụm từ cân đối, các chữ bắt vần liền kề với nhau và vần liền kề có thể là hai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vần trắc, có thể kể đến câu “Người sống đống vàng”, cùng bắt vần “ông” và cùng vần trắc (sống – đống). Có trường hợp các tiếng bắt vần với nhau nhưng không nằm liền kề nhau.Ví như câu “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, kiện và kiến bắt vần với nhau nhưng nằm cách nhau bởi chữ “như”.
Hay như trong câu “Gần mực thì đen gần đèn thì rạng”,“đen” và “đèn” bắt vần với nhau và cũng nằm cách nhau bởi chữ “gần”. Trong cụm từ cân đối còn có sự hài thanh, hai từ gần nhau trong câu cùng vần nhưng trái dấu. Trong câu “Ăn chắc mặc bền”, “chắc” và “mặc” cùng vần “ăc” nhưng khác dấu, từ “chắc” là thanh trắc, từ “mặc” là thanh bằng. Trong câu “Ăn cây táo rào cây bưởi” cũng có sự hài thanh như thế.
Về đối thanh: Hai chữ vế sau cùng thanh nhưng trái thanh với hai chữ vế trước: “Năm thê bảy thiếp” BB TT. “Nòi nào giống đấy” BB TT. “Khác máu tanh lòng” TT BB. “Thấy quế phụ hương” TT BB.
Chữ thứ nhất vế trước đối chữ thứ nhất vế sau, chữ thứ hai vế trước với chữ thứ hai vế sau cũng đối nhau như vậy: “Bới lông tìm vết” TB BT. “Đứt tay hay thuốc” TB BT. “Bồi ở lở đi” BT TB. “Suy chín xét xa” BT TB.
Trong trường hợp cụm từ có ba chữ cùng thanh thì chữ cuối cùng của chữ chia vế nhất thiết phải đối nhau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 “Đất phàm cõi tục “ TB TT. “Ngòi nguyệt ngàn mai” BT BB. Đối về từ loại: Danh từ và tính từ đối với danh từ và tính từ: “Cần tái cải nhừ”; “Liễu yếu mai oằn”. Động từ và danh từ đối với động từ và danh từ: “Vạch lá tìm sâu”;“Qua đò khinh sóng”.
Lượng từ và danh từ đối với lượng từ và danh từ:“Năm thê bảy thiếp”; “Một công hai việc”. Cụm từ cân đối còn xuất hiện trường hợp cân đối chéo. Trong trường hợp cân đối chéo nghĩa là tách từng tiếng kép ra thành hai, rồi lồng vào nhau làm thành một bộ, gọi là cụm từ kết hợp chéo cân đối, như cụm từ cân đối chéo “Ong bướm lả lơi” tách ra thành “Bướm lả ong lơi” (“Biết bao bướm lả ong lơi”– Truyện Kiều). Hay “Bồi ở lở đi”, “Bỏ kinh bỏ kệ”, “Cày ruộng cuốc vườ”, “Đường danh lối lợi”.
Các cụm từ cân đối có hình ảnh và mang tính chất tái hiện. Về mặt ngữ nghĩa, chúng có thể tương ứng với một từ hoặc những cụm từ tự do, về mặt cấu trúc, chúng tương ứng với một cụm từ, một câu đơn. Về mặt cấu trúc, cụm từ cân đối là một chính thể phức hợp, trong đó các thành tố được người nói tái hiện như là những từ độc lập, là những đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, có cấu trúc cố định vững chắc. Giá trị của cụm từ cân đối Từ ngàn xưa, người Việt luôn có thói quen nghe lời nói êm tai, vần vè nhịp nhàng.
Đặc thù ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam không chỉ giàu nhạc điệu, cùng với lối chơi chữ còn tạo ra nhạc tính trong diễn đạt. Cụm từ cân đối giúp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 cho cách diễn đạt vần vè, nhằm nhấn mạnh và gợi ấn tượng với người đọc người nghe, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa. Chúng ta đã biết, cụm từ cân đối thường là ngôn ngữ thông tục của nhân dân, được nhào nặn thành thứ ngôn ngữ trau chuốt về ý nghĩa, âm thanh, nhịp điệu. Bởi thế cho nên cụm từ cân đối tạo ra tính nhạc trong câu.
Việc tạo ra tính nhạc trong câu cũng là thói quen của người Việt. Trong câu nói, câu thơ khi sử dụng cụm từ cân đối giúp câu thơ giàu nhạc điệu, tạo ấn tượng đối với người nghe người đọc. Thậm chí như cách nói vần vè giàu nhạc tính trong ngôn ngữ diễn đạt hiện này của giới trẻ, dường như người sử dụng chỉ còn chú trọng đến ngữ âm, bất chấp ngữ nghĩa: “Buồn như con chuồn chuồn”, “Nhí nhảnh cá cảnh”, “Nhọ như đội Phú Thọ”, “Chán như con gián”…Cách diễn đạt vần vè, nhịp nhàng của cụm từ cân đối được thể hiện rất rõ trong văn học dân gian. Sau này đến văn học thành văn, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai tác giả kế thừa và thể hiện rất thành công cụm từ cân đối trong sáng tác, mang hồn cốt của người Việt Xét ở bình diện bên ngoài, nghĩa là cấu trúc hình thức của cụm từ cân đối, thì cụm từ cân đối là đơn vị ngôn ngữ, bản thân nó là cụm từ cố định.
Xét ở bình diện bên trong, tức là ngữ nghĩa, cụm từ cân đối là đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa được tái tạo mang tính hình ảnh cao. Cụm từ cân đối từ lối diễn đạt trong văn hóa dân gian đến văn học dân gian 1. Cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm 1. Giới thuyết văn khấn Nôm Văn khấn Nôm là những bài văn khấn được viết bằng chữ Nôm sau này được dịch lại bằng chữ quốc ngữ để người dân dễ dùng trong các buổi lễ cúng.
Những từ ngữ trong văn khấn Nôm là thành tâm chứ chẳng sử dụng từ ngữ hoa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 mĩ cầu kỳ và lúc khấn người ta không khấn to cho người xung quanh nghe thấy mà chỉ khấn lâm dâm trong miệng đủ để cho mình và những cụ nghe thấy. Văn khấn là lời trình bày với tổ tiên và những người đã khuất lý do về lễ cúng ngày hôm đó. Thường có từng bài văn khấn cho từng ngày lễ và các bài này không giống nhau như: Văn khấn thần tài, văn khấn ngày giỗ ông bà cha mẹ, văn khấn mùng một và ngày rằm hàng tháng, văn khấn ở chùa, văn khấn lễ giao thừa trong nhà, văn khấn chúng sinh, cúng ông địa… 1. Ý nghĩa của văn khấn Nôm cổ truyền Việt Nam Theo truyền thống từ ngày xưa để lại, trong một năm mang hầu hết ngày lễ tết mà tất cả người, mọi nhà bắt buộc tuân thủ theo để làm tròn đạo mang Trời, Đất.
Đây cũng được coi là một nét văn hóa vô cùng đặc biệt của người Việt. Những lễ tết và nghi thức trong lễ tết như: tìm lễ, thắp hương, cầu khấn bằng văn khấn luôn được những thế hệ đi sau thay những thế hệ đi trước giữ gìn, tôn trọng và truyền đạt lại cho con cháu thế hệ mai sau. Việc cầu khấn bằng văn khấn nhằm bày tỏ lòng thành tâm hướng về tổ tiên của người làm lễ dâng hương trước các đấng vô hình, linh thiêng như: vong linh Tổ tiên, mẫu tộc, Thần thánh, những chư vị Thánh hiền, chư vị Bồ Tát, chư Phật mười phương tám hướng. Lời lẽ trong văn khấn của người xưa luôn bao hàm mong muốn một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc bình an.
Văn khấn là một nét văn hóa rất đặc trưng của người Việt Nam, thuộc loại hình văn hoá dân gian. Điều đáng nói ở đây là trong câu văn khấn Nôm, người Việt thường dùng cụm từ cân đối với tần số khá cao. Khảo sát phân loại cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm 1. Cụm từ cân đối 4 chữ trong văn khấn Nôm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Khảo sát Văn khấn cô Bơ với 30câu thì đã có đến 10 cụm từ cân đối loại 4 chữ.
Ví dụ: “Non xanh nước biếc”, “Cung cao mạng dài”, “Đồng tươi lính tốt”, “Cờ vàng lộng tía”, “Hoa tươi quả tốt”… Khảo sát Văn khấn Quan Tuần Tranh với 16 câu, có 10 cụm từ cân đối 4 chữ: “Cứu dân hộ quốc”, “Lẫm liệt oai hùng”, “Đắp lũy xây thành”, “Nước chảy hoa trôi”,” Sơn cùng thủy kiệt”… Các cụm từ cân đối 4 chữ trong văm khấn Nôm có cấu trúc hai vế với số chữ bằng nhau, đối về thanh điệu rất rõ ràng. Về đối thanh, trong cụm từ khấn Nôm “Non xanh nước biếc”, thanh bằng “xanh” đối với thanh trắc “biếc”.