Khảo Sát Cụm Từ Cân Đối Từ Văn Học Dân Gian Đến Văn Học Thành Văn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay cụm từ cân đối từ văn học dân gian đến văn học thành văn, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

166
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

0.3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CỤM TỪ CÂN ĐỐI – THÓI QUEN DIỄN ĐẠT CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

1.1. Khái lược về cụm từ cân đối

1.2. Khái niệm cụm từ cân đối

1.3. Giá trị của cụm từ cân đối

1.4. Cụm từ cân đối từ lối diễn đạt trong văn hóa dân gian đến văn học dân gian

1.5. Cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm

1.6. Khảo sát phân loại cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm

1.7. Ý nghĩa của cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm

1.8. Cụm từ cân đối trong văn học dân gian

1.9. Cụm từ cân đối được sử dụng trong tục ngữ, thành ngữ

1.10. Cơ sở kiến tạo cụm từ cân đối

1.11. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CỤM TỪ CÂN ĐỐI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI

2.1. SỰ VẬN DỤNG VÀ SÁNG TẠO

2.2. Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập

2.3. Tác giả Nguyễn Trãi. Sự nghiệp thơ văn

2.4. Cụm từ cân đối trong Quốc âm thi tập

2.5. Sự vận dụng văn học dân gian và sáng tạo đa dạng cụm từ cân đối 4 chữ trong Quốc âm thi tập

2.6. Sự vận dụng văn học dân gian và sáng tạo cụm từ cân đối 6 chữ trong Quốc âm thi tập

2.7. Ý nghĩa của việc sử dụng cụm từ cân đối trong thơ Nôm Nguyễn Trãi

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: CỤM TỪ CÂN ĐỐI TRONG TRUYỆN KIỀU – SỰ KẾ THỪA TÀI TÌNH VÀ ĐIÊU LUYỆN

3.1. Nguyễn Du với Truyện Kiều. Sự nghiệp thơ văn

3.2. Nghệ thuật sử dụng cụm từ cân đối trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

3.3. Sự kế thừa tài tình của Nguyễn Du trong việc sử dụng cụm từ cân đối chéo

3.4. Vận dụng kết cấu của cụm từ cân đối chéo để kiến tạo ra tiểu đối trong thơ lục bát

3.5. Ý nghĩa của việc sử dụng cụm từ cân đối trong Truyện Kiều Nguyễn Du

3.6. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học Dân Gian

Cụm từ cân đối là một phần quan trọng trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam. Chúng không chỉ thể hiện sự hài hòa trong cách diễn đạt mà còn phản ánh thói quen giao tiếp của người Việt. Cụm từ cân đối thường được sử dụng trong văn học dân gian, từ ca dao, tục ngữ đến các tác phẩm văn học nổi tiếng. Việc nghiên cứu cụm từ cân đối giúp hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc.

1.1. Khái Niệm Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học

Cụm từ cân đối là những ngữ có cấu trúc đối xứng, thường gồm hai vế với số chữ bằng nhau. Chúng tạo ra tính nhạc và sự hài hòa trong câu, thể hiện rõ nét trong các tác phẩm văn học dân gian và thành văn.

1.2. Giá Trị Của Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học

Cụm từ cân đối không chỉ mang lại vẻ đẹp cho ngôn ngữ mà còn giúp truyền tải ý nghĩa sâu sắc. Chúng thể hiện sự khéo léo trong cách diễn đạt và phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân.

II. Vấn Đề Sử Dụng Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học Thành Văn

Trong văn học thành văn, cụm từ cân đối được sử dụng để tạo ra những hình ảnh sinh động và ấn tượng. Các tác giả như Nguyễn Trãi và Nguyễn Du đã khéo léo vận dụng cụm từ này để làm nổi bật ý tưởng và cảm xúc trong tác phẩm của họ.

2.1. Cụm Từ Cân Đối Trong Thơ Nôm Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi là một trong những nhà thơ đầu tiên sử dụng cụm từ cân đối trong thơ Nôm. Ông đã sáng tạo ra nhiều cụm từ độc đáo, thể hiện sự kết hợp giữa ngôn ngữ dân gian và văn học bác học.

2.2. Cụm Từ Cân Đối Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm tiêu biểu cho việc sử dụng cụm từ cân đối. Tác giả đã khéo léo lồng ghép các cụm từ này để tạo nên sự hài hòa và sâu sắc trong nội dung.

III. Phương Pháp Phân Tích Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học

Phân tích cụm từ cân đối trong văn học đòi hỏi sự kết hợp giữa nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Việc so sánh, đối chiếu và thống kê là những phương pháp quan trọng giúp làm rõ giá trị và ý nghĩa của chúng.

3.1. Phương Pháp So Sánh Đối Chiếu

Phương pháp này giúp so sánh các cụm từ cân đối trong văn học dân gian và văn học thành văn, từ đó rút ra những điểm tương đồng và khác biệt.

3.2. Phương Pháp Thống Kê Phân Loại

Sử dụng phương pháp thống kê để phân loại các cụm từ cân đối theo từng thể loại văn học, giúp nhận diện rõ hơn về sự phong phú và đa dạng của chúng.

IV. Ứng Dụng Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học Đương Đại

Cụm từ cân đối không chỉ tồn tại trong văn học cổ điển mà còn được ứng dụng rộng rãi trong văn học đương đại. Chúng giúp tạo ra những tác phẩm mang tính nghệ thuật cao và gần gũi với đời sống.

4.1. Cụm Từ Cân Đối Trong Các Tác Phẩm Hiện Nay

Nhiều tác giả hiện đại đã sử dụng cụm từ cân đối để làm nổi bật ý tưởng và cảm xúc trong tác phẩm của họ, tạo nên sự kết nối giữa văn học cổ điển và hiện đại.

4.2. Giá Trị Văn Hóa Của Cụm Từ Cân Đối

Cụm từ cân đối không chỉ là một phần của ngôn ngữ mà còn là biểu tượng văn hóa, phản ánh tâm tư, tình cảm và phong tục tập quán của người Việt.

V. Kết Luận Về Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học

Cụm từ cân đối là một phần không thể thiếu trong văn học Việt Nam. Chúng không chỉ thể hiện sự phong phú của ngôn ngữ mà còn góp phần làm giàu thêm giá trị văn hóa dân tộc. Việc nghiên cứu và ứng dụng cụm từ này trong văn học sẽ tiếp tục mở ra nhiều hướng đi mới cho các tác giả trong tương lai.

5.1. Tương Lai Của Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học

Cụm từ cân đối sẽ tiếp tục được nghiên cứu và phát triển trong các tác phẩm văn học mới, góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới

Cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn về cụm từ cân đối trong các thể loại văn học khác nhau, từ đó làm rõ hơn giá trị và ý nghĩa của chúng trong đời sống văn hóa.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay cụm từ cân đối từ văn học dân gian đến văn học thành văn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CỤM TỪ CÂN ĐỐI – THÓI QUEN DIỄN ĐẠT CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN 1. Khái lược về cụm từ cân đối 1. Khái niệm cụm từ cân đối Cụm từ cân đốilà cách gọi tên của ngữ có cấu trúc cân đối gồm hai vế. Mỗi vế, ngoài số chữ trong bằng nhau, số chữ chẵn (có thể là bốn chữ, có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 là sáu chữ), hài hòa cân đối về đối thanh đối ý, tạo ra tính nhạc trong câu.

Cụm từ cân đối yêu cầu phải đối về thanh điệu và đối về từ loại [25,tr. Ví dụ:“Ăn vóc học hay”, “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”. Các câu trên có cấu trúc gồm hai vế với số chữ bằng nhau, đối thanh điệu rất rõ ràng, ở cụm từ cân đối 4 chữ: “Ăn vóc học hay”, thanh trắc “vóc” đối với thanh bằng “hay”. Trong cụm từ cân đối 6 chữ: “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”, các chữ trong câu bằng nhau có sự cân đối hài hòa, bắt vần với nhau và cùng thanh điệu: “nồi”- “ngồi”.

Trong ví dụ cụm từ cân đối 6 chữ có xuất hiện đối về từ loại: danh từ “nồi” đối với danh từ “hướng” Hình thức của cụm từ cân đối khá đa dạng có thể là cụm từ cân đối 4 chữ, cụm từ cân đối 6 chữ, cụm từ cân đối 8 chữ. Ví dụ: Cụm từ cân đối 4 chữ: “Ăn chắc mặc bền”, “Cơm lành canh ngọt”, “ Con dại cái mang”, “Cờ bí dí tốt”, “Cốc mò cò xơi”, “Chó treo mèo đậy”… Cụm từ cân đối 6 chữ:“Buôn có bạn bán có phường”, “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, “Của một đồng công một nén”, “Đâm bị thóc chọc bị gạo”… Cụm từ cân đối 8 chữ: “Một lần ngại tốn, bốn lần chẳng xong”,“Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”, “Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa”… Các từ trong cụm từ cân đối phải bắt vần với nhau, có thể là vần liền kề hoặc cách vần. Vần liền kề có thể là 2 vần bằng, và có thể là 2 vần trắc. Trong ví dụ về cụm từ cân đối 4 chữ, các chữ ở 2 vế có số tiếng bằng nhau.

Các từ trong câu là vần liền kề bắt vần với nhau. Chẳng hạn, trong “Chó treo mèo đậy”, vần “eo” (treo – mèo) nằm liền kề và bắt vần với nhau cùng vần bằng trong câu “Cốc mò cò xơi”. Hoặc trong cụm từ cân đối, các chữ bắt vần liền kề với nhau và vần liền kề có thể là hai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vần trắc, có thể kể đến câu “Người sống đống vàng”, cùng bắt vần “ông” và cùng vần trắc (sống – đống). Có trường hợp các tiếng bắt vần với nhau nhưng không nằm liền kề nhau.Ví như câu “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, kiện và kiến bắt vần với nhau nhưng nằm cách nhau bởi chữ “như”.

Hay như trong câu “Gần mực thì đen gần đèn thì rạng”,“đen” và “đèn” bắt vần với nhau và cũng nằm cách nhau bởi chữ “gần”. Trong cụm từ cân đối còn có sự hài thanh, hai từ gần nhau trong câu cùng vần nhưng trái dấu. Trong câu “Ăn chắc mặc bền”, “chắc” và “mặc” cùng vần “ăc” nhưng khác dấu, từ “chắc” là thanh trắc, từ “mặc” là thanh bằng. Trong câu “Ăn cây táo rào cây bưởi” cũng có sự hài thanh như thế.

Về đối thanh: Hai chữ vế sau cùng thanh nhưng trái thanh với hai chữ vế trước: “Năm thê bảy thiếp” BB TT. “Nòi nào giống đấy” BB TT. “Khác máu tanh lòng” TT BB. “Thấy quế phụ hương” TT BB.

Chữ thứ nhất vế trước đối chữ thứ nhất vế sau, chữ thứ hai vế trước với chữ thứ hai vế sau cũng đối nhau như vậy: “Bới lông tìm vết” TB BT. “Đứt tay hay thuốc” TB BT. “Bồi ở lở đi” BT TB. “Suy chín xét xa” BT TB.

Trong trường hợp cụm từ có ba chữ cùng thanh thì chữ cuối cùng của chữ chia vế nhất thiết phải đối nhau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 “Đất phàm cõi tục “ TB TT. “Ngòi nguyệt ngàn mai” BT BB. Đối về từ loại: Danh từ và tính từ đối với danh từ và tính từ: “Cần tái cải nhừ”; “Liễu yếu mai oằn”. Động từ và danh từ đối với động từ và danh từ: “Vạch lá tìm sâu”;“Qua đò khinh sóng”.

Lượng từ và danh từ đối với lượng từ và danh từ:“Năm thê bảy thiếp”; “Một công hai việc”. Cụm từ cân đối còn xuất hiện trường hợp cân đối chéo. Trong trường hợp cân đối chéo nghĩa là tách từng tiếng kép ra thành hai, rồi lồng vào nhau làm thành một bộ, gọi là cụm từ kết hợp chéo cân đối, như cụm từ cân đối chéo “Ong bướm lả lơi” tách ra thành “Bướm lả ong lơi” (“Biết bao bướm lả ong lơi”– Truyện Kiều). Hay “Bồi ở lở đi”, “Bỏ kinh bỏ kệ”, “Cày ruộng cuốc vườ”, “Đường danh lối lợi”.

Các cụm từ cân đối có hình ảnh và mang tính chất tái hiện. Về mặt ngữ nghĩa, chúng có thể tương ứng với một từ hoặc những cụm từ tự do, về mặt cấu trúc, chúng tương ứng với một cụm từ, một câu đơn. Về mặt cấu trúc, cụm từ cân đối là một chính thể phức hợp, trong đó các thành tố được người nói tái hiện như là những từ độc lập, là những đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, có cấu trúc cố định vững chắc. Giá trị của cụm từ cân đối Từ ngàn xưa, người Việt luôn có thói quen nghe lời nói êm tai, vần vè nhịp nhàng.

Đặc thù ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam không chỉ giàu nhạc điệu, cùng với lối chơi chữ còn tạo ra nhạc tính trong diễn đạt. Cụm từ cân đối giúp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 cho cách diễn đạt vần vè, nhằm nhấn mạnh và gợi ấn tượng với người đọc người nghe, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa. Chúng ta đã biết, cụm từ cân đối thường là ngôn ngữ thông tục của nhân dân, được nhào nặn thành thứ ngôn ngữ trau chuốt về ý nghĩa, âm thanh, nhịp điệu. Bởi thế cho nên cụm từ cân đối tạo ra tính nhạc trong câu.

Việc tạo ra tính nhạc trong câu cũng là thói quen của người Việt. Trong câu nói, câu thơ khi sử dụng cụm từ cân đối giúp câu thơ giàu nhạc điệu, tạo ấn tượng đối với người nghe người đọc. Thậm chí như cách nói vần vè giàu nhạc tính trong ngôn ngữ diễn đạt hiện này của giới trẻ, dường như người sử dụng chỉ còn chú trọng đến ngữ âm, bất chấp ngữ nghĩa: “Buồn như con chuồn chuồn”, “Nhí nhảnh cá cảnh”, “Nhọ như đội Phú Thọ”, “Chán như con gián”…Cách diễn đạt vần vè, nhịp nhàng của cụm từ cân đối được thể hiện rất rõ trong văn học dân gian. Sau này đến văn học thành văn, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai tác giả kế thừa và thể hiện rất thành công cụm từ cân đối trong sáng tác, mang hồn cốt của người Việt Xét ở bình diện bên ngoài, nghĩa là cấu trúc hình thức của cụm từ cân đối, thì cụm từ cân đối là đơn vị ngôn ngữ, bản thân nó là cụm từ cố định.

Xét ở bình diện bên trong, tức là ngữ nghĩa, cụm từ cân đối là đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa được tái tạo mang tính hình ảnh cao. Cụm từ cân đối từ lối diễn đạt trong văn hóa dân gian đến văn học dân gian 1. Cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm 1. Giới thuyết văn khấn Nôm Văn khấn Nôm là những bài văn khấn được viết bằng chữ Nôm sau này được dịch lại bằng chữ quốc ngữ để người dân dễ dùng trong các buổi lễ cúng.

Những từ ngữ trong văn khấn Nôm là thành tâm chứ chẳng sử dụng từ ngữ hoa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 mĩ cầu kỳ và lúc khấn người ta không khấn to cho người xung quanh nghe thấy mà chỉ khấn lâm dâm trong miệng đủ để cho mình và những cụ nghe thấy. Văn khấn là lời trình bày với tổ tiên và những người đã khuất lý do về lễ cúng ngày hôm đó. Thường có từng bài văn khấn cho từng ngày lễ và các bài này không giống nhau như: Văn khấn thần tài, văn khấn ngày giỗ ông bà cha mẹ, văn khấn mùng một và ngày rằm hàng tháng, văn khấn ở chùa, văn khấn lễ giao thừa trong nhà, văn khấn chúng sinh, cúng ông địa… 1. Ý nghĩa của văn khấn Nôm cổ truyền Việt Nam Theo truyền thống từ ngày xưa để lại, trong một năm mang hầu hết ngày lễ tết mà tất cả người, mọi nhà bắt buộc tuân thủ theo để làm tròn đạo mang Trời, Đất.

Đây cũng được coi là một nét văn hóa vô cùng đặc biệt của người Việt. Những lễ tết và nghi thức trong lễ tết như: tìm lễ, thắp hương, cầu khấn bằng văn khấn luôn được những thế hệ đi sau thay những thế hệ đi trước giữ gìn, tôn trọng và truyền đạt lại cho con cháu thế hệ mai sau. Việc cầu khấn bằng văn khấn nhằm bày tỏ lòng thành tâm hướng về tổ tiên của người làm lễ dâng hương trước các đấng vô hình, linh thiêng như: vong linh Tổ tiên, mẫu tộc, Thần thánh, những chư vị Thánh hiền, chư vị Bồ Tát, chư Phật mười phương tám hướng. Lời lẽ trong văn khấn của người xưa luôn bao hàm mong muốn một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc bình an.

Văn khấn là một nét văn hóa rất đặc trưng của người Việt Nam, thuộc loại hình văn hoá dân gian. Điều đáng nói ở đây là trong câu văn khấn Nôm, người Việt thường dùng cụm từ cân đối với tần số khá cao. Khảo sát phân loại cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm 1. Cụm từ cân đối 4 chữ trong văn khấn Nôm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Khảo sát Văn khấn cô Bơ với 30câu thì đã có đến 10 cụm từ cân đối loại 4 chữ.

Ví dụ: “Non xanh nước biếc”, “Cung cao mạng dài”, “Đồng tươi lính tốt”, “Cờ vàng lộng tía”, “Hoa tươi quả tốt”… Khảo sát Văn khấn Quan Tuần Tranh với 16 câu, có 10 cụm từ cân đối 4 chữ: “Cứu dân hộ quốc”, “Lẫm liệt oai hùng”, “Đắp lũy xây thành”, “Nước chảy hoa trôi”,” Sơn cùng thủy kiệt”… Các cụm từ cân đối 4 chữ trong văm khấn Nôm có cấu trúc hai vế với số chữ bằng nhau, đối về thanh điệu rất rõ ràng. Về đối thanh, trong cụm từ khấn Nôm “Non xanh nước biếc”, thanh bằng “xanh” đối với thanh trắc “biếc”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Cụm Từ Cân Đối Trong Văn Học Dân Gian Và Văn Học Thành Văn" khám phá vai trò và ý nghĩa của cụm từ cân đối trong hai thể loại văn học này. Tác giả phân tích cách mà các cụm từ cân đối không chỉ tạo nên nhịp điệu mà còn làm phong phú thêm nội dung và cảm xúc của tác phẩm. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ về cụm từ cân đối giúp nâng cao khả năng cảm thụ văn học, từ đó làm giàu thêm trải nghiệm đọc của mình.

Để mở rộng kiến thức về văn học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn sự phát triển về hình thức của thể thơ thất ngôn bát cú trong thơ nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến, nơi phân tích sự phát triển của thể thơ truyền thống. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ văn học phương thức ứng xử với chữ nôm và văn học nôm thời Lý Trần sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chữ Nôm và văn học trong bối cảnh lịch sử. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thánh tổ kệ diễn quốc âm vấn đề văn bản và giá trị sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về giá trị văn bản trong văn học dân gian. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá thêm về các khía cạnh khác nhau của văn học Việt Nam.