phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề tài của chúng tôi đƣợc bố cục gồm hai chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề văn bản của tác phẩm Thánh tổ kệ diễn quốc âm 1. Văn bản Thánh tổ kệ diễn quốc âm 1. Không Lộ Thiền sƣ, tình hình nghiên cứu về hành trạng và sáng tác văn học 1.
Tình hình nghiên cứu 1. Hệ thống văn bản Hán Nôm của Không Lộ 4 z Chƣơng 2:Văn chƣơng và Thiền học, chữ Nôm và việc diễn Nôm trong tác phẩm Thánh Tổ kệ diễn quốc âm 2. Văn chƣơng và Thiền học 2. Giá trị văn học trong văn bản 2.
Giá trị Thiền học 2. Chữ Nôm và việc diễn Nôm 2. Sơ lƣợc về cấu trúc chữ Nôm 2. Tình hình sử dụng chữ Nôm trong văn bản 6.
Đóng góp của đề tài Nghiên cứu Thánh tổ kệ diễn quốc âm (vấn đề văn bản và giá trị) đã giới thiệu một cách tổng quát thân thế, sự nghiệp cũng nhƣ quá trình tu thành chánh quả, ca ngợi tài, đức của Không Lộ thiền sƣ; giới thiệu về những ngôi chùa đƣợc xem là những danh thắng mà đức Thánh tổ từng đặt chân đến. Đồng thời, luận văn cũng mang đến cái nhìn khá hoàn chỉnh về các kiểu loại chữ Nôm mà văn bản sử dụng. Có thể nói, những giá trị của văn bản mà luận văn chỉ ra đã giúp cho độc giả và những nhà nghiên cứu hiểu sâu sắc hơn về thiên nhiên, con ngƣời và sự vi diệu của Thiền. Đồng thời luận văn có thể làm tài liệu để sinh viên, học viên, đồng nghiệp cùng chuyên ngành tham khảo.
NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN BẢN CỦA TÁC PHẨM THÁNH TỔ KỆ DIỄN QUỐC ÂM (聖祖偈演國音) 1. Văn bản Thánh tổ kệ diễn quốc âm Văn bản nói theo GS. Hà Văn Tấn “ là một tập tin được truyền đạt bằng kí hiệu ngôn ngữ” [36, 22]. Trên cơ sở định nghĩa của GS.
Hà Văn Tấn, GS. Ngô Đức Thọ đã sắp xếp và bổ sung thêm mấy chữ để định nghĩa về văn bản đƣợc đầy đủ: “Văn bản là một tập tin bằng kí hiệu ngôn ngữ được thể hiện trên một bề mặt nào đó” [36, 24]. Thánh tổ kệ diễn quốc âm (聖祖偈演國音) hội đủ các yếu tố cấu thành văn bản (tính vật chất, tính kí hiệu ngôn ngữ), là văn bản Nôm có sử dụng đan xen chữ Hán. Văn bản hiện đƣợc lƣu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm là văn bản đƣợc sao chép có kí hiệu AB 599.
Văn bản đƣợc đánh số trang ở giữa mỗi trang, tổng số là 107 trang (tờ). Để tiện cho việc so sánh với văn bản cùng tên, kí hiệu R.1208 của Thƣ viện quốc gia Việt Nam, chúng tôi đánh lại số trang theo quy ƣớc là trang (tờ) 1a, 1b cho đến hết, đƣợc 54 trang đôi (54 tờ đôi). Trong quá trình đối chiếu hai văn bản với nhau, chúng tôi nhận thấy hai văn giống nhau ở thể loại (cùng là sách), đƣợc khắc in, cùng cỡ chữ, kích thƣớc (24x14 cm). Cả hai đều mất trang bìa, căn cứ vào dòng thơ trong phần chính văn sau lời tựa “A di đà Phật tác chứng minh, Thánh tổ kệ dẫn quốc âm tự khuyến” mà văn bản lấy tên là Thánh tổ kệ diễn quốc âm.
Tuy hai văn bản AB.1208 là hai văn bản có đặc điểm giống nhau nhƣng văn bản AB.599 là văn bản có độ tin cậy cao hơn nên chúng tôi chọn làm bản bản cơ sở “thiện bản” khi thực hiện đề tại. Vì là văn bản sao chép cho nên ngƣời nghiên cứu nói chung cũng nhƣ ngƣời thực hiện đề tài nói riêng gặp phải những khó khăn nhất định trong việc tìm hiểu, khảo cứu và so sánh văn bản. Để cho việc tìm hiểu, nghiên cứa văn bản Thánh Tổ kệ diễn quốc âm (AB 599) - đối tƣợng nghiên cứu chính đƣợc thuận lợi, việc mô tả văn bản về mặt nội dung và hình thức là việc cần thiết cung cấp cái nhìn khái quát về văn bản này. Về mặt hình thức, văn bản sử dụng ba thể loại: thơ (lục bát, thơ tự do, thơ bảy chữ), văn vần, văn xuôi làm công cụ để biểu đạt nội dung.
Cụ thể: 6 z Ngoài bài tựa và phần phụ lục ra, mỗi trang sách đều đƣợc chia làm hai phần. Phần chính văn (phần chữ Nôm in to) đƣợc sử dụng thể lục bát (6-8) làm thể loại chính; phần phụ văn (nhằm để giải thích cho các điển cố chữ Hán đã dùng trong phần chính văn)) lúc dùng văn vần, lúc dùng văn xuôi, cũng có khi dùng thơ để diễn giải. Về mặt nội dung, văn bản ca ngợi quá trình tu tập của đức thánh Không Lộ từ khi còn nhỏ cho đến khi lớn, mộ Thiền, đi tìm đƣờng học Thiền….thành chính quả. Đồng thời ca ngợi cảnh chùa cao đẹp, ca ngợi sự vi diệu của Phật pháp; ca ngợi công sức đóng góp của thiện nam tín nữ trong làng.
Cũng qua văn bản này, ít nhiều ngƣời học có đƣợc cái nhìn khái quát về một thời đại Phật pháp hƣng thịnh. Thời đại mà từ vua cho đến dân đều sùng mộ Phật giáo. Không Lộ thiền sƣ là một trong những con ngƣời tiêu biểu. Cùng làm bạn với ông là Từ Đạo Hạnh và Giác Hải cũng đều là những bậc chân tu hết lòng vì dân vì nƣớc.
Về năm in sách, căn cứ vào dòng chữ Long Phi Khải Định Canh Thân và một số chữ húy triều Nguyễn nhƣ chữ Tông [22b] và chữ Thời [12a,17a, 27a,32a] (viết theo cách kiêng húy của triều Nguyễn), chúng ta có thể khẳng định sách đƣợc khắc in vào năm 1920 ( thời vua Khải Định). Địa điểm in sách , không ghi rõ nhƣng thông qua lời thơ ở trang 43a là: Chùa Cổ Lễ nguyên thờ thánh tổ Chữ Lý xưa thoát hổ tôn thầy Nước Nam từ đấy mới hay Có chùa có Phật có người anh linh [43a] Chúng ta có thể ƣớc đoán Thánh tổ kệ diễn quốc âm do chùa Cổ Lễ khắc ván ấn hành vào đầu năm Thành Thái (1890). Không Lộ thiền sƣ, tình hình nghiên cứu về hành trạng và sáng tác văn học Không Lộ thiền sƣ từ lâu trở thành một đề tài hấp dẫn đối với các học giả nghiên cứu, ngƣời học và nhân dân dƣới nhiều bình diện khác nhau. Có 7 z ngƣời tìm hiểu về Không Lộ dƣới góc độ một vị thiền sƣ – ông tổ của nghề đúc đồng, vị tổ sƣ thứ chín thuộc dòng Vô Ngôn Thông.
Có ngƣời lại viết về ông với tƣ cách một nhà sáng tác văn học, tác giả của tuyệt tác “Ngôn hoài”, “Ngư Nhàn” nổi tiếng. Song cũng có ngƣời bàn về Không Lộ dƣới cả hai bình diện Thiền và văn học… Dù nghiên cứu dƣới bất kì góc độ nào thì những vấn đề mà giới nghiên cứu, ngƣời học hay độc giả quan tâm đều có điểm chung là làm nổi bật tài năng và đức độ của một con ngƣời mà cuộc đời và tài đức của ông đã dành trọn cho Thiền, dùng sự đắc đạo của mình để giáo hóa truyền dạy cho dân chúng. Thông qua các văn bản ghi chép, kể, tìm hiểu về Không Lộ, chân dung của vị thiền sƣ nổi danh này đƣợc tái hiện một cách sinh động rõ nét. Bên cạnh một con ngƣời rất thực, chúng ta còn thấy ở ông một con ngƣời rất siêu phàm của thế giới Niết bàn với những phép mầu vi diệu.
Tình hình nghiên cứu Điểm qua tình hình nghiên cứu về thiền sƣ Không Lộ, chúng ta thấy nổi lên khá nhiều vấn đề cần lí giải để làm sáng tỏ. Thiền Uyển tập anh, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử kí toàn thư là những tƣ liệu quý giá giúp hậu thế tìm hiểu về sƣ tổ chùa Keo đồng thời cũng là cứ liệu có sức thuyết phục để phân định Không Lộ với Minh Không là hai con ngƣời có tên húy, đạo hiệu và quê quán khác nhau, sống ở hai triều vua khác nhau. Cuốn Chùa Keo của Đỗ Văn Ninh, Trịnh Cao Tƣởng, ty văn hóa Thái Bình, xuất bản năm 1974 là một cuốn sách cung cấp cho ngƣời đọc những thông tin cần thiết về danh tính, quê quán và hành trạng của Không Lộ thiền sƣ. Trong sách Thơ văn Lý- Trần, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991 chƣa có sự phân biệt rõ ràng tiểu sử và hành trạng của Không Lộ với Minh Không – thiền sƣ có nhiều nét tƣơng đồng với thiền sƣ Không Lộ.
Giáo sƣ Bùi Duy Tân trong bài viết Không Lộ…sư tổ chùa Keo…cuộc đời, văn nghiệp công bố trên nội san Nghiên cứu Phật học số 5- 1992, đã chỉ ra 8 z sự nhầm lẫn của một số tác giả khi đồng nhất Không Lộ thiền sƣ và Minh Không thiền sƣ là một. Lê Xuân Quang trong cuốn Không Lộ- Minh Không (Văn hóa dân tộc, 2000) đã chứng minh Không Lộ chính là Minh Không và ngƣợc lại. Phạm Đức Duật có bài viết Sự tích Không Lộ, Minh Không đăng trên tạp chí Hán Nôm, 1984. Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng với lí lẽ và luận chứng thuyết phục trong “ Bài bạt về việc khảo cứu sự tích đức thánh tổ” đã chứng minh Không Lộ và Minh Không là hai con ngƣời khác nhau.
Ông đã chỉ ra điểm khác nhau rất cụ thể của Không Lộ và Minh Không khi so sánh Chích Quái của Nguyễn Quỳnh với chính sử: Khác biệt đầu tiên của Không Lộ và Minh Không nằm ngay trong họ và tên. Không Lộ họ Dƣơng, húy Minh Nghiêm còn Minh Không họ Nguyễn húy Chí Thành. Khác biệt thứ hai giữa hai thiền sƣ này là quê quán của hai ông khác nhau. Không Lộ quê ở Giao Thủy, phủ Hải Thanh, Minh Không quê ở Đàm Xá.
Khác biệt nữa là Không Lộ sinh năm Bính Thìn niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016), đời Lý Thái Tổ, Minh Không sinh năm Bính Ngọ, niên hiệu Long Chƣơng Thiên Tự thứ 1 (1066), đời Lý Thái Tông. Không Lộ mất năm Giáp Tuất, niên hiệu Hội phong thứ 3 (1094) thọ 79 tuổi, Minh Không mất năm Tân Dậu niên hiệu Đại Định thứ 2 (1141) đời Lý Anh Tông, thọ 75 tuổi. Theo sách Thánh tổ hạnh thực diễn âm ca ( kí hiệu vHv 2380, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội ): Thủa xưa triều Lý Thuận Thiên Bốn phương phẳng lặng ba bên vững vàng Có ông Giao Thủy học Dương Bà người Hán Lý ở miền xứ Đông Ông bà trung hiếu một lòng Ngoài làm ngư nghệ, trong sùng Phật kinh Tòa sen Tam bảo chứng minh Trời cho đức Phật thác sinh vào nhà Chùa Tôn mở cõi Đàm hoa 9 z Mười bốn tháng chín thánh đà giáng sinh. Thánh tổ húy là Minh Nghiêm, hiệu là Không Lộ.