CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT Như chúng ta đã biết, bất cứ một thể loại văn học nào cũng có " lý lịch " của nó, có quá trình hình thành, phát triển, biến hóa trong những điều kiện lịch sử, xã hội nhất định. Thơ Đường luật cũng thế. Về xã hội, nhà Đường được bắt đầu khi Lý Uyên nhận lệnh của triều đình, cho quân đánh vào Trường An năm 61 7, Tùy Dưỡng bị bộ hạ giết chết năm 618. Lý Uyên lên làm vua, và kết thúc năm 907, khi " quân phiệt Chu Ôn trở thành nước lớn mạnh nhất ở lưu vực Hoàng Hà, phế bỏ vua Đường, tự xưng Vương, lấy quốc hiệu là Lương, lịch sử gọi là hậu Lương - để phân biệt với nhà Lương ( 502 - 557 ) " ( Sơ lược lịch sử Trung Quốc.
Đổng Tập Minh, Nxb Ngoại văn Bắc Kinh, 1963, trang 107 ). Thấy được nguyên nhân thất bại của nhà Tùy, nhà Đường tìm cách hòa hoãn với nông dân, ban hành nhiều chính sách phát triển sản xuất , giảm mức đóng góp về tô thuế, tơ lụa. Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho thủ công nghiệp, giao thông, thương mại phát triển theo. về văn hóa, nhà Đường chăm lo phát triển các bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc.
Nhà Đường mở rộng giao lưu văn hóa với Ấn Độ, Tây Á, Phương Tây, Nhật bản bằng việc cử người ra nước học tập hay mời những chuyên gia nghệ thuật các nước vào Trung Quốc giảng dạy, hướng dẫn nghệ thuật, về hội họa, phát triển nhất là tranh lụa, tranh thủy mặc, dùng mực tàu ( màu đen ) vẽ tranh phong cảnh. Một công trình đồ sộ tiêu biểu cho hội họa, điêu khắc thời kỳ này là động Đôn Hoàng, từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIV " trong khoảng hơn nghìn năm, người ta đã khoét hơn một nghìn động trên vách núi. hiện nay có 480 động vẫn còn nguyên vẹn, trong đó bảy phần mười là khoét hồi Tùy - Đường. Trong động có chạm nhiều tượng phật rất đẹp.
vẽ đầy tranh màu rực rỡ. Các tranh ấy biểu hiện đời sống như cày ruộng, kéo thuyền, chăn nuôi. biểu diễn nghệ thuật, âm nhạc, nhảy múa " ( Sách vừa vẫn trang 113, 1 1 4 ). Đời Đường đã lưu danh đến ngày nay nhiều tên tuổi về hội họa như Ngô Đạo Tử, Tào Bá, Hàn Cán, Trịnh Kiền, Kỳ Nhạc, Vương Duy.
về thư gia có Trương Húc, Lý Ung, Hạ Tri Chương, Lý Triều. về vũ đạo có Công Tôn Đại Nương và 1 2 vũ nữ. Đàn giỏi, hát hay có Lý Qui Niên. Nghệ thuật nhảy múa, đánh đàn, thổi sáo ở thời Đường rất được mọi người đồng tình.
Hoàn cảnh kinh tế, văn hóa xã hội nói trên đã tạo những tiền đề cho văn học nói chung, 10 thơ ca nói riêng phát triển thuận lợi. Thời Đường, giáo dục phát triển mạnh. Qua thi cử, triều đình lựa chọn nhân tài điều hành xã hội. Nhà Đường tổ chức nhiều kỳ thi, quan trọng nhất là kỳ thi chọn tiến sĩ.
Mỗi lần thi, hàng ngàn người tham gia. Chủ trương " Dĩ thi thủ sĩ " ( lấy thơ để chọn người tài ) đã kích thích người học trau dồi văn chương, chữ nghĩa, thúc đẩy thơ ca phát triển. về tôn giáo. thời Đường có Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo.
Tôn giáo nào cũng nhiều sách vở. Đạo giáo có " Đạo đức kinh ". Phật giáo thịnh hành. Nhà sư Huyền Trang rời kinh đô Trường An đến Ấn Độ trong vòng 1 4 năm ( từ 630 đến 644 ) đem về Trung Quốc 650 bộ kinh Phật.
Nghĩa Tĩnh cùng sang Ấ n Độ đem về 400 bộ kinh Phật. Về Nho giáo, Khổng Dũng Đạt cùng một số nhà nho soạn " Ngũ kinh chính nghĩa " gồm 170 quyển. Sự nở rộ của tư tưởng đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của văn học Đường, trong đó có thơ Đường luật. Thơ Đường luật ra đời đánh dấu kết quả của một quá trình cải biến đã nảy sinh từ thời Lục Triều (thế kỷ III đến thế kỷ VII ).
Điều kiện chuẩn bị, tác động cho sự ra đời đó, ngoài yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoa, giáo dục, tôn giáo. kể trên, phải nói tới sự phát triển của âm vận học. Tiếng Hán vốn có thanh điệu, có những thanh khác nhau : bằng và trắc, trong thanh trắc lại chia ra thượng, khứ, nhập như sau : Loại thanh Tên các thanh Dấu thanh tương ứng trong tiếng Việt Bằng Trầm bình thanh dấu huyền Phù bình thanh không có dấu Trắc Phù thượng thanh dấu ngã Trầm thượng thanh dấu hỏi Phù khứ thanh dấu sắc Trầm khứ thanh dấu nặng Phù nhập thanh dấu sắc 11 Trầm nhập thanh dấu nặng Điều này, trước đó, chưa ai phát hiện được. Đến thời Lục Triều, ( Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần ) do phải dịch một số tác phẩm của Phật giáo, vốn được viết bằng tiếng Phạn ( là thứ tiếng không có dấu ) người Trung Quốc mới phát hiện ra được hiện tượng có dấu của tiếng nước mình.
Người phát hiện và đặt cách đánh dấu thanh tiếng Hán là Thẩm Ước, đời Lương Vũ Đế ( 502 ). Do phát hiện được thanh bằng, trắc, các nhà thơ thời Lục triều trước hết là Thẩm Ước, đã nghiên cứu cách sắp xếp âm thanh trong thơ sao cho du dương, trầm bổng. Thẩm Ước đề nghị : các chữ có vị trí tương ứng trong một cặp câu nên có thanh ngược nhau. Qua thử nghiệm, người ta thấy hay, chấp nhận.
Lê Trí Viễn trong cuốn Đặc trưng văn học trung đại ( Nxb KHXH, Hà Nội, 1996 ) có dẫn từ Lịch sử văn học Trung Quốc của Viện nghiên cứu văn học Trung Quốc ( Nxb Văn học, 1964, dịch từ Trung Quốc văn học lịch sử ( Nxb Nhân dân văn học Bắc Kinh, 1 962 ) nói thêm về chuyển biến từ thơ cổ thể sang thơ cận thể: " Không bằng lòng với " Cổ thể " hơi tự do, hai ông muốn thơ có cách luật nghiêm chỉnh. Học tập đối ngẫu từng cặp câu từ Kinh Thi, mà các nhà làm phú đã vận dụng với văn biền ngẫu. ông ( tức Thẩm ước ) viết : " năm màu ánh nhau, tám âm hoa nhau, từ màu sắc âm thanh đó, vạn vật thích nghi với nhau. Bản đàn muốn thánh thót thì âm cao thấp phải tiết chế lẫn nhau.
Nếu âm trên nổi thì âm sau tất phải cho thật kêu. Trong một đoạn, âm vận rất khác nhau. Trong hai câu, nặng nhẹ cũng chẳng giống. Làm được như thế mới có thể gọi là văn " ( trang 233, 234 ).
Điều này, chính vì thế, được giữ lại dấu vết trong thơ luật Đường. Điều kiện chuẩn bị cho thơ luật Đường còn là sự phát triển của văn biền ngẫu ( tác phẩm gồm những cặp câu đối nhau ). Đối ý là tìm hai ý cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau. Đối chữ kết hợp đối thanh tức trắc đối với bằng, bằng đối trắc; phải đối loại của chữ, nghĩa là phải đặt hai chữ cùng một từ loại để đối nhau ( cùng danh từ hay cùng động từ hoặc cùng tính từ.
) Văn biền ngẫu, như trên đã nói, phát triển cũng nhờ vào thành tựu của âm vận học ( đối về âm thanh ). Trong một bài thơ thất ngôn bát cú, trừ hai câu đề ( câu 1 và câu 2 ) và hai câu kết ( câu 7 và câu 8 ) còn bốn câu giữa là hai câu thực và hai câu luận thì câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6. Có được hai cặp câu đối nhau trong thơ luật Đường là tiếp thu thành tựu trên của văn biền ngẫu. Nhờ có phép đối này mà bài thơ có thêm tính hài hòa trong tiết tấu.
Sự ra đời của thơ luật Đường còn dựa trên sự phát triển của thơ ca trước đó. Trước đời Đường ( 618 - 907 ), văn học Trung Quốc đã có nhiều thành tựu nổi bật. Các bái Quan Thư , Đào yêu, Quyển nhĩ ( một loài rau có hoa trắng, lá ăn được ). trong Kinh thi; một số tác phẩm thuộc Tản văn như Khuất Hoàn đi sứ nước Tề, Trùng nhĩ chạy trốn trong các nước, Thuốc bất tử, Tô Tẩn yết kiến vua Sở .; hay Ly tao, Thiệp Giang, Ai Sính.
thuộc văn học Tiên Tần hay của văn học Hán như Nhạc phủ ( Chiến thành nam , Hữu sở tư, Thượng da. vừa giàu chất hiện thực vừa tràn đầy yếu tố lãng mạn. Cho nên, từ kho tàng phong phú sẵn có của văn học dân tộc, các nhà thơ đời Đường đã tiếp thu tinh thần hiện thực của Kinh thi, Nhạc phủ; tinh thần lãng mạn của thơ Khuất Nguyên; lối viết tỷ,hứng của Kinh thị lối tự sự của Nhạc phủ Trong kho tàng văn học Trung Quốc, trước đời Đường có thơ cổ phong ( còn gọi là thơ cổ thể ) là để phân biệt với thơ cận thể -vốn là tên gọi của người đời sau đối với các thể thơ có trước đời Đường. Tên ấy, sau cũng được dùng để chỉ những bài thơ được sáng tác trong và sau đời Đường không theo niêm luật chặt chẽ như luật thơ Đường quy định.
Đặc điểm của thể thơ cổ phong là: có thể dùng vần bằng hoặc vần trắc, cũng có thể dùng vần bằng, vần trắc xen kẽ, không theo quy định nào về phối thanh bằng, trắc; không buộc phải đối. Nhưng, để đọc cho dễ nghe, ngâm cho du dương, bài thơ vẫn phải thích ứng với quy luật âm thanh của tiếng nói số chữ trong dòng, số dòng trong bài thơ tương đối linh hoạt. Mỗi dòng có thể bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, thậm chí lên mười chữ. Ví dụ bài Tương tiến tửu của Lý bạch dài 25 dòng, có dòng thứ nhất dài 10 chữ: Quân bất kiến Hoàng Hà chi ihủy thiên thượng lai.
và dòng ba cũng dài mười chữ: Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát. cũng có những dòng chỉ có sáu chữ: - Sầm Phu Tử. Đan Khâu Sinh ( dòng 11 ) - Ngũ hoa mã, thiên kim cừu ( dòng 23 ). những dòng còn lại đều bảy chữ Từ thời Lục Triều, thể thơ này đã phát triển, nhất là dạng ngũ ngôn.
Thơ thất ngôn ra đời và bước đầu phát triển ( câu nào cũng bảy chữ ). Hầu hết dân ca thời Lục Triều là những bài thơ trữ tình theo hình thức bốn câu. Thơ Đường luật có thể tuyệt cú ( bốn câu ) gồm hai loại ngũ ngôn và thất ngôn là tiếp thu những truyền thống trên. Đến đời Đường, về phép thanh luật đối ngẫu càng thêm tinh mật.