Nghiên cứu sự phát triển hình thức thể thơ thất ngôn bát cú trong thơ Nôm của các tác giả nổi bật

Tổng hợp kiến thức Phát triển hình thức thể thơ thất ngôn bát cú trong thơ ..., tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong văn học

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án thạc sĩ khoa học ngữ văn

1997

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Nhiệm vụ của luận án

Phạm vi của luận án

Lịch sử vấn đề

Phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

2. CHƯƠNG 2: THƠ ĐƯỜNG LUẬT Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG SÁNG TÁC THƠ CHỮ NÔM TRƯỚC KHI NGUYỄN TRÃI VIẾT QUỐC ÂM THI TẬP, SỰ PHÁT TRIỂN VỀ CẤU TRÚC, NHỊP ĐIỆU

2.1. Thơ Đường luật ở Việt Nam và những sáng tác thơ chữ Nôm trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập

2.1.1. Thơ Đường luật du nhập vào Việt Nam rất sớm

2.1.2. Chữ Nôm và những sáng tác thơ chữ Nôm trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập

2.2. Sự phát triển về hình thức của thể thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm ở phương diện cấu trúc, nhịp điệu

2.2.1. Về cấu trúc

2.2.1.1. Hiện tượng xen câu lục ngôn
2.2.1.2. Về đề, thực, luận, kết

3. CHƯƠNG 3: SỰ PHÁT TRIỂN VỀ HÌNH THỨC CỦA THỂ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ Ở PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ

3.1. Hệ thống ngôn ngữ dân gian, đời thường

3.1.1. Bộ phận từ thuần Việt

3.1.2. Ngôn ngữ văn học dân gian

3.1.3. Ngôn ngữ đời sống thường ngày

3.2. Tiết kiệm lời

3.3. Từ mang tính khái quát

3.4. Dùng điển tích, điển cố

PHẦN KẾT LUẬN

THƯ MỤC THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thể thơ thất ngôn bát cú

Thể thơ thất ngôn bát cú là một trong những thể thơ truyền thống của Việt Nam, có nguồn gốc từ thơ Đường luật của Trung Quốc. Thể thơ này được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã nhanh chóng được Việt hóa để phù hợp với tâm tư, tình cảm của người Việt. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, và Nguyễn Khuyến là những tác giả tiêu biểu đã sử dụng thể thơ này trong sáng tác của họ. Sự phát triển của thể thơ này không chỉ thể hiện qua hình thức mà còn qua nội dung, phản ánh sâu sắc tâm hồn và tính cách của người Việt. Theo đó, việc nghiên cứu sự phát triển của thể thơ này trong thơ Nôm là cần thiết để hiểu rõ hơn về văn học Việt Nam. Như Trường Chinh đã từng nói, thơ ca Việt Nam luôn chứa đựng 'tâm hồn và tính cách của người Việt Nam'.

1.1. Nguồn gốc và sự phát triển

Thể thơ thất ngôn bát cú có nguồn gốc từ thơ Đường luật, được hình thành và phát triển trong bối cảnh lịch sử và văn hóa của Việt Nam. Khi du nhập vào Việt Nam, thể thơ này đã được các nhà thơ Việt Nam tiếp thu và cải biên, tạo nên những tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc. Sự phát triển của thể thơ này không chỉ dừng lại ở việc sao chép mà còn thể hiện sự sáng tạo độc đáo của các tác giả. Nguyễn Trãi là một trong những người đầu tiên đã sử dụng thể thơ này để thể hiện những tư tưởng nhân văn và yêu nước. Ông đã Việt hóa thể thơ này, làm cho nó trở nên gần gũi và dễ tiếp cận với người đọc Việt Nam.

II. Phân tích thơ Nôm của Nguyễn Trãi

Thơ Nôm của Nguyễn Trãi không chỉ nổi bật với nội dung sâu sắc mà còn thể hiện sự tinh tế trong hình thức. Ông đã sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú để truyền tải những tư tưởng lớn lao về đất nước và con người. Các bài thơ của ông thường mang tính chất trữ tình, thể hiện tâm tư của một người yêu nước, một trí thức có trách nhiệm với dân tộc. Sự kết hợp giữa hình thức và nội dung trong thơ của ông đã tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Chẳng hạn, trong bài thơ 'Cảnh ngày hè', Nguyễn Trãi đã khéo léo sử dụng hình thức thơ để thể hiện nỗi lòng của mình trước cảnh vật thiên nhiên và con người. Ông đã viết: 'Rừng xanh đã có bóng cây, / Nước non đã có mây bay lững lờ'. Những hình ảnh này không chỉ đẹp mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên.

2.1. Đặc điểm nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trãi

Thơ của Nguyễn Trãi thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hình thức và nội dung. Ông đã sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú một cách linh hoạt, tạo nên những bài thơ có nhịp điệu và âm hưởng đặc sắc. Sự sử dụng từ ngữ tinh tế, hình ảnh sống động đã giúp cho thơ của ông trở nên gần gũi và dễ cảm nhận. Ông không chỉ dừng lại ở việc thể hiện cảm xúc cá nhân mà còn phản ánh tâm tư của cả dân tộc. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của ông, nơi mà mỗi câu thơ đều mang một thông điệp sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước.

III. Thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ Xuân Hương

Cả Nguyễn Bỉnh KhiêmHồ Xuân Hương đều là những tác giả tiêu biểu trong việc phát triển thể thơ thất ngôn bát cú. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sử dụng thể thơ này để thể hiện những triết lý sống và tư tưởng nhân văn. Ông thường viết về những vấn đề xã hội, con người và thiên nhiên, tạo nên những tác phẩm có chiều sâu tư tưởng. Trong khi đó, Hồ Xuân Hương lại mang đến một làn gió mới cho thể thơ này với những chủ đề gần gũi, bình dị nhưng cũng đầy tính trào phúng. Bà đã khéo léo lồng ghép những vấn đề xã hội vào trong thơ, thể hiện sự nhạy bén và tinh tế của một người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Những bài thơ của bà không chỉ mang tính chất giải trí mà còn chứa đựng những thông điệp sâu sắc về tình yêu và cuộc sống.

3.1. Đặc điểm nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Ông đã sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú một cách điêu luyện, tạo nên những bài thơ có âm điệu và nhịp điệu phong phú. Sự sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ trong thơ của ông rất tinh tế, thể hiện sự sâu sắc trong tư tưởng và cảm xúc. Ông thường viết về những vấn đề lớn lao của cuộc sống, từ tình yêu đến những trăn trở về xã hội. Điều này đã tạo nên một phong cách thơ độc đáo, dễ dàng chinh phục người đọc.

IV. Thơ Nôm của Nguyễn Khuyến

Thơ của Nguyễn Khuyến cũng là một phần quan trọng trong sự phát triển của thể thơ thất ngôn bát cú. Ông đã sử dụng thể thơ này để thể hiện những tâm tư, tình cảm của mình về quê hương, đất nước. Các bài thơ của ông thường mang tính chất trữ tình, thể hiện nỗi lòng của một người yêu quê hương, đất nước. Sự kết hợp giữa hình thức và nội dung trong thơ của ông đã tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Chẳng hạn, trong bài thơ 'Tự tình', Nguyễn Khuyến đã khéo léo sử dụng hình thức thơ để thể hiện nỗi lòng của mình trước cảnh vật thiên nhiên và con người. Ông đã viết: 'Cảnh vật như mơ, lòng như mộng, / Nỗi niềm riêng tư, ai thấu hiểu'. Những hình ảnh này không chỉ đẹp mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên.

4.1. Đặc điểm nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến

Thơ của Nguyễn Khuyến thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hình thức và nội dung. Ông đã sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú một cách linh hoạt, tạo nên những bài thơ có nhịp điệu và âm hưởng đặc sắc. Sự sử dụng từ ngữ tinh tế, hình ảnh sống động đã giúp cho thơ của ông trở nên gần gũi và dễ cảm nhận. Ông không chỉ dừng lại ở việc thể hiện cảm xúc cá nhân mà còn phản ánh tâm tư của cả dân tộc. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của ông, nơi mà mỗi câu thơ đều mang một thông điệp sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn sự phát triển về hình thức của thể thơ thất ngôn bát cú trong thơ nôm của nguyễn trãi nguyễn bỉnh khiêm hồ xuân hương và nguyễn khuyến

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT Như chúng ta đã biết, bất cứ một thể loại văn học nào cũng có " lý lịch " của nó, có quá trình hình thành, phát triển, biến hóa trong những điều kiện lịch sử, xã hội nhất định. Thơ Đường luật cũng thế. Về xã hội, nhà Đường được bắt đầu khi Lý Uyên nhận lệnh của triều đình, cho quân đánh vào Trường An năm 61 7, Tùy Dưỡng bị bộ hạ giết chết năm 618. Lý Uyên lên làm vua, và kết thúc năm 907, khi " quân phiệt Chu Ôn trở thành nước lớn mạnh nhất ở lưu vực Hoàng Hà, phế bỏ vua Đường, tự xưng Vương, lấy quốc hiệu là Lương, lịch sử gọi là hậu Lương - để phân biệt với nhà Lương ( 502 - 557 ) " ( Sơ lược lịch sử Trung Quốc.

Đổng Tập Minh, Nxb Ngoại văn Bắc Kinh, 1963, trang 107 ). Thấy được nguyên nhân thất bại của nhà Tùy, nhà Đường tìm cách hòa hoãn với nông dân, ban hành nhiều chính sách phát triển sản xuất , giảm mức đóng góp về tô thuế, tơ lụa. Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho thủ công nghiệp, giao thông, thương mại phát triển theo. về văn hóa, nhà Đường chăm lo phát triển các bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc.

Nhà Đường mở rộng giao lưu văn hóa với Ấn Độ, Tây Á, Phương Tây, Nhật bản bằng việc cử người ra nước học tập hay mời những chuyên gia nghệ thuật các nước vào Trung Quốc giảng dạy, hướng dẫn nghệ thuật, về hội họa, phát triển nhất là tranh lụa, tranh thủy mặc, dùng mực tàu ( màu đen ) vẽ tranh phong cảnh. Một công trình đồ sộ tiêu biểu cho hội họa, điêu khắc thời kỳ này là động Đôn Hoàng, từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIV " trong khoảng hơn nghìn năm, người ta đã khoét hơn một nghìn động trên vách núi. hiện nay có 480 động vẫn còn nguyên vẹn, trong đó bảy phần mười là khoét hồi Tùy - Đường. Trong động có chạm nhiều tượng phật rất đẹp.

vẽ đầy tranh màu rực rỡ. Các tranh ấy biểu hiện đời sống như cày ruộng, kéo thuyền, chăn nuôi. biểu diễn nghệ thuật, âm nhạc, nhảy múa " ( Sách vừa vẫn trang 113, 1 1 4 ). Đời Đường đã lưu danh đến ngày nay nhiều tên tuổi về hội họa như Ngô Đạo Tử, Tào Bá, Hàn Cán, Trịnh Kiền, Kỳ Nhạc, Vương Duy.

về thư gia có Trương Húc, Lý Ung, Hạ Tri Chương, Lý Triều. về vũ đạo có Công Tôn Đại Nương và 1 2 vũ nữ. Đàn giỏi, hát hay có Lý Qui Niên. Nghệ thuật nhảy múa, đánh đàn, thổi sáo ở thời Đường rất được mọi người đồng tình.

Hoàn cảnh kinh tế, văn hóa xã hội nói trên đã tạo những tiền đề cho văn học nói chung, 10 thơ ca nói riêng phát triển thuận lợi. Thời Đường, giáo dục phát triển mạnh. Qua thi cử, triều đình lựa chọn nhân tài điều hành xã hội. Nhà Đường tổ chức nhiều kỳ thi, quan trọng nhất là kỳ thi chọn tiến sĩ.

Mỗi lần thi, hàng ngàn người tham gia. Chủ trương " Dĩ thi thủ sĩ " ( lấy thơ để chọn người tài ) đã kích thích người học trau dồi văn chương, chữ nghĩa, thúc đẩy thơ ca phát triển. về tôn giáo. thời Đường có Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo.

Tôn giáo nào cũng nhiều sách vở. Đạo giáo có " Đạo đức kinh ". Phật giáo thịnh hành. Nhà sư Huyền Trang rời kinh đô Trường An đến Ấn Độ trong vòng 1 4 năm ( từ 630 đến 644 ) đem về Trung Quốc 650 bộ kinh Phật.

Nghĩa Tĩnh cùng sang Ấ n Độ đem về 400 bộ kinh Phật. Về Nho giáo, Khổng Dũng Đạt cùng một số nhà nho soạn " Ngũ kinh chính nghĩa " gồm 170 quyển. Sự nở rộ của tư tưởng đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của văn học Đường, trong đó có thơ Đường luật. Thơ Đường luật ra đời đánh dấu kết quả của một quá trình cải biến đã nảy sinh từ thời Lục Triều (thế kỷ III đến thế kỷ VII ).

Điều kiện chuẩn bị, tác động cho sự ra đời đó, ngoài yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoa, giáo dục, tôn giáo. kể trên, phải nói tới sự phát triển của âm vận học. Tiếng Hán vốn có thanh điệu, có những thanh khác nhau : bằng và trắc, trong thanh trắc lại chia ra thượng, khứ, nhập như sau : Loại thanh Tên các thanh Dấu thanh tương ứng trong tiếng Việt Bằng Trầm bình thanh dấu huyền Phù bình thanh không có dấu Trắc Phù thượng thanh dấu ngã Trầm thượng thanh dấu hỏi Phù khứ thanh dấu sắc Trầm khứ thanh dấu nặng Phù nhập thanh dấu sắc 11 Trầm nhập thanh dấu nặng Điều này, trước đó, chưa ai phát hiện được. Đến thời Lục Triều, ( Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần ) do phải dịch một số tác phẩm của Phật giáo, vốn được viết bằng tiếng Phạn ( là thứ tiếng không có dấu ) người Trung Quốc mới phát hiện ra được hiện tượng có dấu của tiếng nước mình.

Người phát hiện và đặt cách đánh dấu thanh tiếng Hán là Thẩm Ước, đời Lương Vũ Đế ( 502 ). Do phát hiện được thanh bằng, trắc, các nhà thơ thời Lục triều trước hết là Thẩm Ước, đã nghiên cứu cách sắp xếp âm thanh trong thơ sao cho du dương, trầm bổng. Thẩm Ước đề nghị : các chữ có vị trí tương ứng trong một cặp câu nên có thanh ngược nhau. Qua thử nghiệm, người ta thấy hay, chấp nhận.

Lê Trí Viễn trong cuốn Đặc trưng văn học trung đại ( Nxb KHXH, Hà Nội, 1996 ) có dẫn từ Lịch sử văn học Trung Quốc của Viện nghiên cứu văn học Trung Quốc ( Nxb Văn học, 1964, dịch từ Trung Quốc văn học lịch sử ( Nxb Nhân dân văn học Bắc Kinh, 1 962 ) nói thêm về chuyển biến từ thơ cổ thể sang thơ cận thể: " Không bằng lòng với " Cổ thể " hơi tự do, hai ông muốn thơ có cách luật nghiêm chỉnh. Học tập đối ngẫu từng cặp câu từ Kinh Thi, mà các nhà làm phú đã vận dụng với văn biền ngẫu. ông ( tức Thẩm ước ) viết : " năm màu ánh nhau, tám âm hoa nhau, từ màu sắc âm thanh đó, vạn vật thích nghi với nhau. Bản đàn muốn thánh thót thì âm cao thấp phải tiết chế lẫn nhau.

Nếu âm trên nổi thì âm sau tất phải cho thật kêu. Trong một đoạn, âm vận rất khác nhau. Trong hai câu, nặng nhẹ cũng chẳng giống. Làm được như thế mới có thể gọi là văn " ( trang 233, 234 ).

Điều này, chính vì thế, được giữ lại dấu vết trong thơ luật Đường. Điều kiện chuẩn bị cho thơ luật Đường còn là sự phát triển của văn biền ngẫu ( tác phẩm gồm những cặp câu đối nhau ). Đối ý là tìm hai ý cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau. Đối chữ kết hợp đối thanh tức trắc đối với bằng, bằng đối trắc; phải đối loại của chữ, nghĩa là phải đặt hai chữ cùng một từ loại để đối nhau ( cùng danh từ hay cùng động từ hoặc cùng tính từ.

) Văn biền ngẫu, như trên đã nói, phát triển cũng nhờ vào thành tựu của âm vận học ( đối về âm thanh ). Trong một bài thơ thất ngôn bát cú, trừ hai câu đề ( câu 1 và câu 2 ) và hai câu kết ( câu 7 và câu 8 ) còn bốn câu giữa là hai câu thực và hai câu luận thì câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6. Có được hai cặp câu đối nhau trong thơ luật Đường là tiếp thu thành tựu trên của văn biền ngẫu. Nhờ có phép đối này mà bài thơ có thêm tính hài hòa trong tiết tấu.

Sự ra đời của thơ luật Đường còn dựa trên sự phát triển của thơ ca trước đó. Trước đời Đường ( 618 - 907 ), văn học Trung Quốc đã có nhiều thành tựu nổi bật. Các bái Quan Thư , Đào yêu, Quyển nhĩ ( một loài rau có hoa trắng, lá ăn được ). trong Kinh thi; một số tác phẩm thuộc Tản văn như Khuất Hoàn đi sứ nước Tề, Trùng nhĩ chạy trốn trong các nước, Thuốc bất tử, Tô Tẩn yết kiến vua Sở .; hay Ly tao, Thiệp Giang, Ai Sính.

thuộc văn học Tiên Tần hay của văn học Hán như Nhạc phủ ( Chiến thành nam , Hữu sở tư, Thượng da. vừa giàu chất hiện thực vừa tràn đầy yếu tố lãng mạn. Cho nên, từ kho tàng phong phú sẵn có của văn học dân tộc, các nhà thơ đời Đường đã tiếp thu tinh thần hiện thực của Kinh thi, Nhạc phủ; tinh thần lãng mạn của thơ Khuất Nguyên; lối viết tỷ,hứng của Kinh thị lối tự sự của Nhạc phủ Trong kho tàng văn học Trung Quốc, trước đời Đường có thơ cổ phong ( còn gọi là thơ cổ thể ) là để phân biệt với thơ cận thể -vốn là tên gọi của người đời sau đối với các thể thơ có trước đời Đường. Tên ấy, sau cũng được dùng để chỉ những bài thơ được sáng tác trong và sau đời Đường không theo niêm luật chặt chẽ như luật thơ Đường quy định.

Đặc điểm của thể thơ cổ phong là: có thể dùng vần bằng hoặc vần trắc, cũng có thể dùng vần bằng, vần trắc xen kẽ, không theo quy định nào về phối thanh bằng, trắc; không buộc phải đối. Nhưng, để đọc cho dễ nghe, ngâm cho du dương, bài thơ vẫn phải thích ứng với quy luật âm thanh của tiếng nói số chữ trong dòng, số dòng trong bài thơ tương đối linh hoạt. Mỗi dòng có thể bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, thậm chí lên mười chữ. Ví dụ bài Tương tiến tửu của Lý bạch dài 25 dòng, có dòng thứ nhất dài 10 chữ: Quân bất kiến Hoàng Hà chi ihủy thiên thượng lai.

và dòng ba cũng dài mười chữ: Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát. cũng có những dòng chỉ có sáu chữ: - Sầm Phu Tử. Đan Khâu Sinh ( dòng 11 ) - Ngũ hoa mã, thiên kim cừu ( dòng 23 ). những dòng còn lại đều bảy chữ Từ thời Lục Triều, thể thơ này đã phát triển, nhất là dạng ngũ ngôn.

Thơ thất ngôn ra đời và bước đầu phát triển ( câu nào cũng bảy chữ ). Hầu hết dân ca thời Lục Triều là những bài thơ trữ tình theo hình thức bốn câu. Thơ Đường luật có thể tuyệt cú ( bốn câu ) gồm hai loại ngũ ngôn và thất ngôn là tiếp thu những truyền thống trên. Đến đời Đường, về phép thanh luật đối ngẫu càng thêm tinh mật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề Phát triển hình thức thể thơ thất ngôn bát cú trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến khám phá sự phát triển và ứng dụng của thể thơ thất ngôn bát cú trong văn học Nôm, đặc biệt là qua các tác phẩm của những nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến. Tài liệu không chỉ phân tích cấu trúc và đặc điểm của thể thơ này mà còn làm nổi bật những giá trị nghệ thuật và tư tưởng mà nó mang lại. Độc giả sẽ nhận thấy sự phong phú trong ngôn ngữ và cảm xúc, cũng như cách mà các nhà thơ đã sử dụng thể thơ này để truyền tải thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người.

Để mở rộng thêm kiến thức về mối liên hệ giữa văn học dân gian và văn học thành văn, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hay cụm từ cân đối từ văn học dân gian đến văn học thành văn. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự chuyển mình của ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật trong văn học Việt Nam, từ đó làm phong phú thêm cái nhìn của bạn về thể thơ thất ngôn bát cú và những tác phẩm liên quan.