MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài nghiên cứu can thiệp. Tình hình nghiên cứu đề tài. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu can thiệp. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu. 15 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI.
17 PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH .1 Lý luận về phụ nữ bị bạo lực gia đình. Lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình .3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình. Cơ sở chính trị - pháp lý của công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình. 37 Chƣơng 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN PHƢỜNG BÀNG LA, QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.
Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu. Thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình. Thực trạng các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động công tác xã hội với phụ nữ bị BLGĐ. 57 Chƣơng 3: ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN PHƢỜNG BÀNG LA, QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.
Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình. 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 93 PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BLGĐ: Bạo lực gia đình NVCTXH: Nhân viên Công tác xã hội CTXH: Công tác xã hội NXB: Nhà xuất bản PC BLGĐ: Phòng chống bạo lực gia đình DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Nội dung tham vấn pháp lý.2: Các hoạt động trợ giúp sức khỏe cho phụ nữ bị BLGĐ .3: Các hình thức tƣ vấn .4: Hoạt động hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bị BLGĐ và không bị bạo lực gia đình tại phƣờng Bàng La quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng .5: Nội dung của truyền thông .6: Nhận thức về hậu quả của BLGĐ.7: Biện pháp ngăn chặn BLGĐ.1: Danh sách nhóm phụ nữ bị BLGĐ phƣờng Bàng La.
75 DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu đồ 2.1: Nội dung tham vấn đối với phụ nữ bị BLGĐ phƣờng Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng .2: Hình thức và phƣơng pháp truyền thông .3: Trình độ chuyên môn của Nhân viên công tác xã hội .4: Đánh giá năng lực làm việc của Nhân viên công tác xã hội .5: Tỷ lệ kinh phí hoạt động. Lý do chọn đề tài nghiên cứu can thiệp Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam đƣợc Chính phủ Việt Nam và Liên hợp Quốc công bố ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho thấy: Hơn một nửa phụ nữ tại Việt Nam đều có nguy cơ bị bạo lực tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Báo cáo nêu rõ 32% phụ nữ từng kết hôn cho biết đã trải qua bạo lực thể chất trong cuộc đời và 6% đã trải qua bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua. Tỷ lệ bạo lực tinh thần ở mức cao: có 54% phụ nữ cho biết đã từng bị bạo lực tinh thần trong cuộc đời và 25% bị bạo lực tinh thần trong 12 tháng qua.
Tất cả những phụ nữ cho biết đã trải qua bạo lực thể chất và tình dục thì đồng thời cũng chịu bạo lực tinh thần. Nếu kết hợp dữ liệu của cả 3 hình thức bạo lực cho thấy 58% phụ nữ đã từng trải qua cả bạo lực thể chất, tình dục và tinh thần. 27% phụ nữ cho biết đã chịu ít nhất một trong 3 hình thức bạo lực này trong 12 tháng qua. Theo báo cáo của Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch, 2018) thì từ 2012 đến hết 2017 xảy ra 139.395 vụ bạo lực gia đình.
Trong đó bạo lực về thân thể 69.133 vụ, bạo lực về tinh thần 51.227 vụ, bạo lực về kinh tế 14.331 vụ, bạo lực tình dục 4. Nhƣ vậy, đa số phụ nữ Việt Nam đều có nguy cơ tiềm tàng bị bạo lực gia đình ở một hay một vài thời điểm nào đó trong cuộc sống của họ. Tại một số vùng ở Việt Nam đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cứ 10 phụ nữ thì có 4 ngƣời nhận thấy gia đình không phải là nơi an toàn đối với họ. (Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch, 2018) Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tƣợng rất phổ biến nhƣng vấn đề này vẫn bị giấu giếm nhiều.
Sự kỳ thị và sự xấu hổ khiến phụ nữ phải giữ im lặng, nhiều phụ nữ còn nghĩ rằng bạo lực trong quan hệ vợ chồng là điều“bình thường” và người phụ nữ cần bao dung, nhẫn nhịn chịu đựng để gìn giữ sự êm ấm cho gia đình. Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe, thể chất và tinh thần của ngƣời phụ 1 nữ. Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì có một ngƣời cho biết họ phải chịu đựng những vết thƣơng trên cơ thể và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thƣơng tích nhiều lần. Theo báo cáo số 82-BC/UBND của UBND thành phố Hải Phòng (ngày 14/11/2017), chỉ tính riêng năm 2016, tại Hải Phòng đã xảy ra trên 400 vụ bạo lực gia đình dƣới các hình thức khác nhau, trong đó số vụ nạn nhân là nữ chiếm khoảng 60%; xảy ra 17 vụ xâm hại trẻ em, trong đó xâm hại tình dục trẻ em là 12 vụ, với 12 nạn nhân.
Trong 6 tháng đầu năm 2017, đã xảy ra 10 vụ xâm hại, bạo lực trẻ em, trong đó có 07 vụ xâm hại tình dục trẻ em với 07 nạn nhân; 03 vụ mua bán phụ nữ và trẻ em với số nạn nhân là 03 ngƣời. [4] Nguyên nhân của bạo lực giới là tình trạng bất bình đẳng giới, định kiến giới, tƣ tƣởng trọng nam, khinh nữ và một số nguyên nhân khác nhƣ nghiện rƣợu, sử dụng ma túy, sức ép kinh tế, quan hệ hôn nhân bất chính… nhưng yếu tố bất bình đẳng về quyền lực, tiếng nói và sự kiểm soát giữa nam giới và phụ nữ là nguyên nhân chính khiến cho hành vi bạo lực kéo dài. Tháng 11/2007, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Ngay sau đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy hƣớng dẫn thực hiện và triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhƣng hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình chƣa cao, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chƣa thực sự đi vào cuộc sống, đặc biệt ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tế các chƣơng trình can thiệp hiện nay tại Việt Nam trong thời gian qua chƣa quan tâm đến vai trò và sự tham gia của công tác xã hội tại các địa phƣơng. Sự tham gia của đội ngũ nhân viên CTXH trên địa bàn cộng đồng cƣ dân đang sinh sống sẽ góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của ngƣời dân thì vấn đề bạo lực gia đình tại Việt Nam sẽ giảm thiểu và tiến tới từng bƣớc xóa bỏ bạo lực. Vai trò của CTXH là vô cùng quan trọng trong việc truyền thông, vận động, giáo dục và thay đổi hành vi của ngƣời dân để xây dựng đƣợc những mô hình gia đình, cộng đồng 2 không có bạo lực, đảm bảo an sinh xã hội, nếp sống văn minh, hạnh phúc, phát triển kinh tế bền vững.
Vì vậy, dựa trên thực tiễn xã hội và cộng đồng, tôi chọn đề tài Công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng nhƣ là một cách tiếp cận khác với những hoạt động can thiệp bạo lực gia đình trƣớc đây tại địa phƣơng để làm đề tài nghiên cứu. Đề tài tập trung đi sâu tìm hiểu về thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn phƣờng Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, góp phần phản ánh về vấn nạn phụ nữ bị bạo lực gia đình, cùng xã hội đẩy lùi bạo lực gia đình, giúp phụ nữ giảm bớt phần nào những căng thẳng, khủng hoảng từ bạo lực gia đình mang lại, giúp họ tự tin hơn để hòa nhập cộng đồng, đồng thời, nhằm đƣa ra các giải pháp hiệu quả dƣới góc độ CTXH để có thể giảm dần vấn đề bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và quyền bình đẳng của ngƣời phụ nữ. Tình hình nghiên cứu đề tài 2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới Một nghiên cứu gần đây năm 2018 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy cứ 100 phụ nữ thì có 15 phụ nữ phải chịu đựng một hình thức bạo lực nào đó về thể xác, tinh thần hay tình dục ngay trong ngôi nhà của họ và đây là vấn đề có tính chất toàn cầu hiện đang xảy ra ở cả các nƣớc phát triển lẫn các nƣớc đang phát triển. Chi phí kinh tế cũng rất đáng quan tâm.
Một báo cáo năm 2003 cuả Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Mỹ ƣớc tính rằng chi phí cho những vụ bạo lực do ngƣời quen biết gây ra chỉ tính riêng ở Mỹ cũng đã lên đến 5,8 tỷ USD mỗi năm; 4,1 tỷ cho các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe trực tiếp và 1,8 tỷ cho những thiệt hại về khả năng lao động.Kubany xuất bản tại Canada đã đề cập đến các kỹ thuật giúp những phụ nữ 3 là những nạn nhân bị bạo lực gia đình có thể vƣợt qua đƣợc những khủng hoảng, sang chấn do bạo lực đem lại.B Waxler xuất bản tại Mỹ năm 2006 đã đề xuất cách thức trị liệu nhóm dành cho nam giới là thủ phạm gây bạo lực gia đình; trong đó, tập trung vào hình thức trị liệu nhận thức hành vi, xây dựng các kỹ năng, cách thức kiểm soát cảm xúc bản thân với nguyên tắc lấy thân chủ làm trọng tâm. [39] Theo kết quả nghiên cứu, bạo lực gia tăng trong các cuộc xung đột và khủng hoảng nhân đạo đã gây ra những hệ quả về thể chất và tinh thần cho các nạn nhân.