MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Chiến tranh đi qua đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với mảnh đất và con người Việt Nam, đặc biệt là dải đất miền Trung. Nhiều di chứng của chiến tranh cho đến nay vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trong đó, bom mìn còn sót lại đã và đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa tính mạng người dân cũng như gây ra nhiều hậu quả về môi trường và xã hội.
Huyện Triệu Phong là một trong những địa phương gánh chịu hậu quả chiến tranh khốc liệt nhất của tỉnh Quảng Trị - chiến địa của những trận đánh ác liệt trong lịch sử (1954 - 1975). Đây từng là địa bàn có các căn cứ quân sự lớn của Mỹ ngụy như sân bay Ái Tử, quân cảng Cửa Việt, căn cứ Phượng Hoàng và nhiều vị trí phòng thủ trọng yếu khác. Là vành đai bảo vệ thị xã Quảng Trị - thị xã tỉnh lỵ thời ngụy quyền Sài Gòn, là nơi từng diễn ra những cuộc tranh chấp quyết liệt giữa hai bên nên nơi đây phải hứng chịu một khối lượng lớn bom mìn. Hàng trăm ngàn tấn bom, đạn các loại đã trút xuống mảnh đất này.
Các căn cứ quân sự, đồn bốt của quân đội Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn được bố trí dày đặc, ẩn chứa xung quanh là những bãi mìn sát thương. Mảnh đất này như oằn mình lên vì những vết sẹo bom mìn cày xới. Theo ước tính của chính quyền địa phương, hầu hết các địa bàn trong huyện đều bị ảnh hưởng bởi bom mìn và đây là khu vực có mức độ ô nhiễm bom mìn cao nhất tỉnh Quảng Trị (chiếm hơn 37% tỷ lệ bom mìn còn sót lại sau chiến tranh của toàn tỉnh) [53]. Gần 40 năm sau ngày giải phóng, các cấp chính quyền cùng nhân dân huyện Triệu Phong đã và đang nỗ lực hết mình hàn gắn vết thương chiến tranh.
Giờ đây, mảnh đất qua bao năm dài chiến sự, chịu bao đau thương, mất 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mát, được sự đồng lòng, gắng sức của chính quyền và nhân dân đang từng ngày hồi sinh. Tuy nhiên, nhiều vùng đất tưởng rằng sẽ đem lại ấm no, thịnh vượng cho người dân lại ẩn chứa trong nó những loại vũ khí chết người mà qua thời gian không mất đi tính năng tàn sát, hủy diệt. Chúng vẫn chờ đợi để một ngày nào đó cướp đi sinh mạng hay để lại thương tật, sự ám ảnh về tâm lý suốt đời cho các nạn nhân xấu số, đó có thể là những thanh niên khỏe mạnh, bác nông dân, cụ già hay chỉ là em học sinh nhỏ… và gây nên những nỗi đau không thể nào bù đắp được cho các gia đình nạn nhân, cho cộng đồng. Theo thống kê của Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị, từ sau ngày chiến tranh kết thúc cho đến nay (1975 - 2013), số nạn nhân tai nạn bom mìn của huyện là 1293 người, chiếm tỉ lệ cao nhất (18,4%) so với các địa phương khác trong tỉnh Quảng Trị.
Số nạn nhân tử vong do tai nạn bom mìn của huyện là 474 người, chiếm tỉ lệ 18,1% so với tổng số nạn nhân tử vong toàn tỉnh (cao thứ hai sau huyện Hải Lăng) [78]. Rõ ràng là “Sau chiến tranh vẫn chưa hết chiến tranh”, “Sau những nỗi buồn vẫn còn lại những nỗi buồn”. Ngày ngày, đâu đó trên những ruộng lúa, bãi ngô, cánh rừng, bãi cát hay trong các khu dân cư, xóm làng thanh bình nơi đây vẫn vang lên tiếng nổ kinh hoàng và sau đó là biết bao nỗi đau: người chết, kẻ bị thương, vợ mất chồng, con mất cha, mất mẹ, anh mất em… Phần lớn tai nạn xảy ra do các nạn nhân tò mò; thiếu hiểu biết về các loại bom mìn, tác hại của chúng; thiếu sự chú ý khi đi vào các khu vực nguy hiểm; thiếu những kỹ năng cơ bản để phòng tránh cũng như cảnh báo cho người khác tránh nguy hiểm. Do đó, nguy cơ tai nạn không chỉ xảy ra đối với những người dân bình thường mà với nạn nhân đã từng bị tai nạn thì mối nguy hiểm này vẫn có khả năng lặp lại.
Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi đã chọn hướng nghiên cứu“CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành CTXH của mình. Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực chung phòng tránh và giảm thiểu hậu quả chiến tranh, đặc biệt là hậu quả của bom mìn còn sót lại; thông qua các hoạt động CTXH nhóm được đề xuất nhằm tạo môi trường sinh hoạt cho các nạn nhân, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng trong nhóm, hỗ trợ nạn nhân vượt qua những khó khăn về mặt tâm lý. Từ đó, giúp các nạn nhân tự vươn lên trong cuộc sống, nâng cao chất lượng đời sống người dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội huyện Triệu Phong nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Bom mìn còn sót lại và tai nạn bom mìn sau chiến tranh là vấn đề được các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể, đơn vị quân đội, nhân dân địa phương cũng như các tổ chức Phi chính phủ trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực này đặc biệt quan tâm.
Những năm qua, đã và đang có nhiều kế hoạch, chương trình, dự án được tiến hành tại tỉnh Quảng Trị nói chung, huyện Triệu Phong nói riêng về thống kê, khảo sát thực trạng bom mìn sau chiến tranh, tai nạn bom mìn và hỗ trợ nạn nhân… Đi kèm theo đó là những bài viết, nghiên cứu, báo cáo được thực hiện một cách cụ thể, chi tiết về các vấn đề liên quan. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Vấn đề bom mìn và hậu quả của nó trong các ấn phẩm nước ngoài trước đây chủ yếu là hồi ký về những ngày tháng ở chiến trường của các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam. Trong cuốn hồi ký xuất bản tại Mỹ vào năm 1991 “The Vietnam Wars 1945 – 1990” của tác giả Marilyn B.Young – một cựu binh từng tham gia nhiều chiến dịch ở Quảng Trị đã mô tả về những trận đánh ác liệt như chiến 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch Lam Sơn 719, Dốc Miếu, Ái Tử, La Vang… Trong đó, ông dành nhiều trang viết để tái hiện lại hình ảnh sân bay quân sự Ái Tử - nơi mà ông đã có thời gian dài ở đây trong khoảng những năm 1967 – 1973 “…sân bay Ái Tử với hàng rào thép gai kiên cố và những bãi mìn sát thương phân bố dày đặc phía bên trong và bên ngoài hàng rào nhằm chống sự xâm nhập của Bắc Việt…” [72, tr43]. Hay những chi tiết kể về nỗi ám ảnh của quân viễn chinh Mỹ đóng ở sân bay Ái Tử khi hàng ngày phải đối mặt với hiểm họa bom mìn do chính họ gây ra “…đó là những ngày tháng chúng tôi luôn sống trong sợ hãi và lo lắng bởi những tiếng nổ của bom, tiếng gầm rú của máy bay và sự hy sinh của những người bạn khi vướng phải mìn do chính đất nước chúng tôi mang đến mảnh đất này…”[72, tr56].
Như vậy, mặc dù đã xa Việt Nam nhưng qua ký ức của người cựu binh Mỹ về một vùng đất đầy bom mìn, tang thương, chết chóc cũng giúp chúng ta hình dung được mức độ ô nhiễm bom mìn và tác hại to lớn của nó trên địa bàn huyện Triệu Phong. Năm 1993, báo cáo do Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ (VVMF) thực hiện với tên gọi Socio - Economic Report on the Impact of Landmines [77] đã đưa ra những đánh giá ban đầu về các tác động kinh tế xã hội do tai nạn bom mìn gây nên tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực tỉnh Quảng Trị. Báo cáo cũng đi sâu, tập trung phân tích, mô tả, thống kê thực trạng bom mìn và tai nạn bom mìn từ sau khi chiến tranh kết thúc và những số liệu ước tính về thiệt hại con người, kinh tế, môi trường do tai nạn bom mìn gây nên. Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh tác động về mặt kinh tế của bom mìn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của các địa phương sau khi chiến tranh kết thúc.
Theo đó, bom mìn và tai nạn bom mìn là nguyên nhân hàng đầu cản trở những nỗ lực phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân bởi vì nó đã hạn chế diện tích đất sử dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, cơ sở sản xuất công nghiệp, công trình dân sinh như nhà 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở, bệnh viện, trường học… Từ đó, kéo theo những hệ quả như tình trạng người dân thiếu đất sản xuất, không có việc làm, năng suất sản xuất nông nghiệp bị giảm sút, cơ sở hạ tầng các địa phương đã bị tàn phá trong chiến tranh không có điều kiện được khắc phục và phát triển, do đó càng trở nên thiếu thốn, lạc hậu. Tuy nhiên, có rất ít trang đề cập đến vấn đề này tại huyện Triệu Phong. Các nghiên cứu khác được công bố ở Mỹ, Úc và Anh như War of the Mines của tác giả Davis, P. (1994) [69], After the Guns Fall Silent: The Enduring Legacy of Landmines của hai tác giả Roberts & William J.
(1995) [75], The Impact of Landmines on children in Quang Tri Province, Central VietNam của Jim Monan (1996) [70]… đa phần là những hồi ký, ghi chép của các cựu binh, nhà báo chiến trường, những nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam. Trong các nghiên cứu này chủ yếu mô tả toàn cảnh cuộc chiến và những hậu quả của nó để lại trong và sau chiến tranh, trong đó có tai nạn bom mìn. Cuốn sách The Impact of Landmines on children in Quang Tri Province, Central VietNam của Jim Monan công bố năm 1996 đã phân tích những tác động của vấn đề bom mìn đối với đối tượng là trẻ em. Phần đầu cuốn sách là những dòng hồi ức về vùng đất đầy bom mìn, vũ khí, sự giao tranh mà tác giả đã có khoảng thời gian dài được chứng kiến.
Qua việc mô tả lại sự ác liệt trong thời kỳ chiến tranh tại Quảng Trị, tác giả một lần nữa khẳng định tính chất nguy hiểm và ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh đối với người dân sống tại vùng đất này.