Tổng quan nghiên cứu

Công tác giảm nghèo bền vững luôn là một trong những trọng tâm chiến lược hàng đầu trong chính sách an sinh xã hội của Việt Nam. Tại tỉnh Quảng Ninh, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm mạnh từ 4,56% xuống còn 2,25% vào cuối năm 2017, tương đương mức giảm tuyệt đối 2,31%. Mặc dù đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thực tiễn tại các địa phương thuần nông như xã Tiền An, thị xã Quảng Yên cho thấy giảm nghèo vẫn đối mặt với nhiều thách thức mang tính chu kỳ. Tính đến cuối năm 2017, toàn xã Tiền An vẫn còn 45 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 1,77%) và 200 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 14,17%) trên tổng số 2.507 hộ dân với 9.638 nhân khẩu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào nhóm phụ nữ thuộc diện hộ nghèo, đặc biệt là 24 hộ nghèo có thành viên phụ nữ làm chủ hộ hoặc là lao động chính. Nhóm đối tượng này đang phải gánh chịu nhiều thiệt thòi đa chiều: trình độ học vấn hạn chế, gánh nặng chăm sóc gia đình, thiếu vốn sản xuất và thường xuyên đối mặt với định kiến xã hội. Mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân, khảo sát toàn diện thực trạng đời sống và nhu cầu của phụ nữ nghèo tại địa bàn, đồng thời ứng dụng tiến trình can thiệp chuyên nghiệp 1-1 vào một trường hợp điển hình nhằm khôi phục và tăng cường chức năng xã hội của thân chủ.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai từ tháng 7/2017 đến tháng 7/2018 tại 16 thôn thuộc xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học và quy trình thực hành thực nghiệm, trực tiếp đóng góp vào mục tiêu của địa phương trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 0,98% (dưới 25 hộ) vào năm 2020, tạo tiền đề chuyển đổi phương thức trợ giúp xã hội từ bao cấp thụ động sang nâng cao năng lực tự chủ bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba khung lý thuyết nền tảng trong công tác xã hội để soi chiếu và xây dựng mô hình can thiệp thực tiễn:

Thứ nhất, Lý thuyết Hệ thống (General Systems Theory) bắt nguồn từ các công trình của Ludwig von Bertalanffy năm 1971 và được phát triển bởi các học giả công tác xã hội như Hearn và Germain. Lý thuyết này nhìn nhận con người là một thực thể tâm lý - xã hội tồn tại trong mối tương tác liên tục với môi trường sinh thái gồm: gia đình, cộng đồng, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân viên trợ giúp. Phân tích phụ nữ nghèo qua lăng kính hệ thống giúp xác định các điểm nghẽn về nguồn lực xung quanh thân chủ, từ đó thiết lập các can thiệp đa tầng thay vì xem nghèo đói là lỗi cá nhân đơn lẻ.

Thứ hai, Lý thuyết Nhận thức - Hành vi (Cognitive Behavioral Theory) dựa trên nền tảng nghiên cứu của Sheldon năm 1995 và thuyết học hỏi xã hội của Albert Bandura năm 1977. Lý thuyết khẳng định suy nghĩ, cảm xúc và hành vi có mối quan hệ nhân quả tương hỗ; các hành vi thụ động, cam chịu bắt nguồn từ nhận thức sai lệch hoặc niềm tin phi lý về số phận. Việc can thiệp nhận thức giúp phụ nữ nghèo nhận diện điểm mạnh của bản thân, loại bỏ tâm lý tự ti và chủ động học hỏi kỹ năng mới.

Thứ ba, Thuyết Thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow năm 1970 với 5 cấp bậc từ nhu cầu sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng đến phát huy bản ngã. Lý thuyết đóng vai trò định hướng thứ tự ưu tiên trong can thiệp: giải quyết các thiếu hụt thiết yếu trước khi thúc đẩy các nhu cầu phát triển kinh tế và hòa nhập cộng đồng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm then chốt gồm: Nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (chuẩn thu nhập 700.000 đồng/người/tháng tại khu vực nông thôn và 10 chỉ số thiếu hụt thuộc 5 dịch vụ xã hội cơ bản); Phụ nữ nghèo; và Công tác xã hội cá nhân với bản chất là tiến trình nghiệp vụ tương tác 1-1 nhằm trợ giúp thân chủ tự giải quyết vấn đề.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính trên nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi định lượng được thực hiện trên cỡ mẫu toàn bộ gồm 24 phụ nữ thuộc diện hộ nghèo tại 16 thôn của xã Tiền An. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng do quy mô tổng thể hộ nghèo có phụ nữ làm chủ hộ trên địa bàn có giới hạn, đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho nhóm đối tượng nghiên cứu. Bảng hỏi tập trung thu thập dữ liệu về thu nhập, điều kiện nhà ở, trình độ học vấn, tần suất tiếp cận dịch vụ y tế và nhu cầu trợ cấp xã hội.

Phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu với 10 đối tượng khảo sát có chủ đích: 01 cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, 02 cán bộ phụ trách chính sách xã và chi hội trưởng phụ nữ thôn, 05 phụ nữ nghèo làm chủ hộ và 02 người dân địa phương. Lý do chọn phương pháp này nhằm thấu hiểu sâu sắc các rào cản tâm lý, định kiến giới và xung đột gia đình mà bảng hỏi định lượng chưa phản ánh hết.

Phương pháp công tác xã hội cá nhân được thực hiện thông qua quy trình can thiệp 6 bước: (1) Tiếp cận và xác định vấn đề; (2) Thu thập thông tin; (3) Chẩn đoán, phân tích và thẩm định; (4) Lập kế hoạch trị liệu; (5) Triển khai trị liệu; (6) Lượng giá và kết thúc ca. Các công cụ đánh giá lâm sàng như Cây phả hệ gia đình (Genogram) và Biểu đồ sinh thái (Ecomap) được sử dụng để phân tích một trường hợp thân chủ cụ thể tại thôn Cỏ Khê trong suốt mốc thời gian thực hiện từ tháng 7/2017 đến tháng 7/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bức tranh đa diện về thực trạng của 24 phụ nữ thuộc diện hộ nghèo tại xã Tiền An qua các phát hiện cụ thể:

Thứ nhất, về năng lực lao động và học vấn: Trong 24 hộ nghèo có phụ nữ làm chủ hộ, có 13 người (chiếm 54,17%) còn khả năng lao động trực tiếp, trong khi 11 người còn lại (chiếm 45,83%) đã mất sức lao động do già yếu, khuyết tật hoặc ốm đau dài ngày. Về trình độ học vấn, có 16/24 phụ nữ (tương đương 66,67%) chỉ học hết cấp trung học cơ sở và 8/24 người (tương đương 33,33%) dừng lại ở bậc tiểu học. Tỷ lệ 100% phụ nữ nghèo chưa qua đào tạo nghề chuyên môn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến công việc bấp bênh, chủ yếu làm nông nghiệp tự cung tự cấp hoặc làm thuê thời vụ.

Thứ hai, về đặc điểm tâm lý và tình trạng sức khỏe: 13/24 người (54,17%) hiếm khi tham gia các hoạt động hội họp đoàn thể và 11/24 người (45,83%) thừa nhận luôn mang tâm lý tự ti, mặc cảm, ngại giao tiếp với bên ngoài. Về chế độ dinh dưỡng, 18/24 phụ nữ (chiếm 75,00%) phản ánh bữa ăn hàng ngày chủ yếu là rau tự trồng, rất hiếm khi có thịt cá. Đáng chú ý, có tới 20/24 người (83,33%) chỉ đi khám bệnh khi cơn đau đã chuyển biến nặng và 4/24 người (16,67%) chưa từng đi khám sức khỏe định kỳ; trong đó 19/24 ý kiến (79,17%) giải thích lý do không đi khám là vì không có thời gian do phải mưu sinh liên tục.

Thứ ba, về gánh nặng gia đình và nhu cầu thực tế: Khảo sát cho thấy 11/24 phụ nữ (chiếm 45,83%) sinh từ 3 con trở lên, tạo áp lực kinh tế nặng nề; 3 trường hợp phản ánh tình trạng chồng nghiện rượu và có hành vi bạo lực gia đình. Về cơ cấu nhu cầu hỗ trợ: 20/24 người (83,33%) khao khát được nâng cao đời sống tinh thần; 17/24 người (70,83%) có nhu cầu vay vốn ưu đãi để phát triển kinh tế; 12/24 người (50,00%) mong muốn được hỗ trợ khám chữa bệnh tại trạm y tế cơ sở; và 11/24 người (45,83%) có nhu cầu đào tạo nâng cao tay nghề canh tác.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét tính chất nghèo kinh niên của phụ nữ nông thôn khi các yếu tố thiếu hụt đan xen chặt chẽ với nhau. Sự thiếu hụt về học vấn dẫn đến thu nhập thấp, kéo theo tình trạng kiệt quệ về thể chất và hình thành tâm lý buông xuôi, phó mặc cho số phận. Các số liệu này hoàn toàn có thể được trực quan hóa qua biểu đồ tròn về cơ cấu học vấn và bảng phân tích ma trận nhu cầu Maslow để thấy rõ mức độ thiếu hụt tập trung ở tầng nhu cầu sinh lý và an toàn.

So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây của tác giả Võ Thị Cẩm Ly năm 2010 tại Nghệ An hay nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thu Hoài tại Hà Nội, tình trạng phụ nữ nghèo bị bủa vây bởi các rào cản xã hội và tâm lý tự ti là một mẫu số chung ở khu vực nông thôn và ven đô. Tuy nhiên, điểm khác biệt tại xã Tiền An là địa phương đã hình thành được 11 tổ tiết kiệm và vay vốn do Hội Phụ nữ quản lý với Ngân hàng Chính sách Xã hội, đạt tỷ lệ 100% hộ nghèo có thẻ bảo hiểm y tế. Dù vậy, các hoạt động trợ giúp hiện tại vẫn mang nặng tính hành chính và cứu trợ vật chất ngắn hạn, thiếu vắng các can thiệp chuyên nghiệp về tâm lý xã hội để giúp phụ nữ thay đổi tư duy sản xuất và xây dựng kế hoạch quản lý tài chính cá nhân lâu dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo:

Thứ nhất, chuẩn hóa và áp dụng quy trình công tác xã hội cá nhân 6 bước vào công tác giảm nghèo tại cơ sở. Ủy ban nhân dân xã Tiền An cần giao Hội Liên hiệp Phụ nữ xã phối hợp với công chức Lao động - Thương binh và Xã hội lập hồ sơ quản lý ca cho 100% phụ nữ nghèo làm chủ hộ còn khả năng lao động (13 hộ) trước quý 4/2019. Nhân viên hỗ trợ cần áp dụng kỹ thuật tham vấn nhận thức - hành vi để giúp thân chủ xác định mục tiêu sinh kế, loại bỏ tâm lý ỷ lại vào trợ cấp.

Thứ hai, thiết kế các gói tín dụng vi mô linh hoạt kết hợp chuyển giao khoa học kỹ thuật. Đề nghị Ngân hàng Chính sách Xã hội thị xã Quảng Yên phối hợp với Hội Nông dân và Hội Phụ nữ xã giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi cho 17 hộ phụ nữ có nhu cầu, gắn liền với mô hình chăn nuôi bò sinh sản và canh tác rau an toàn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu đặt ra là 100% hộ vay vốn được hướng dẫn kế hoạch hoàn vốn chi tiết, đạt tỷ lệ thoát nghèo bền vững trên 80% trong giai đoạn 2018-2020.

Thứ ba, nâng cao năng lực y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Trạm y tế xã Tiền An cần phối hợp với Trung tâm Y tế thị xã Quảng Yên tổ chức định kỳ 02 đợt khám bệnh và tư vấn dinh dưỡng miễn phí mỗi năm ngay tại thôn, xóm; tập trung vào phụ nữ nghèo và trẻ em. Đảm bảo duy trì chỉ tiêu 100% phụ nữ thuộc hộ nghèo và cận nghèo được tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe sinh sản và vệ sinh nguồn nước.

Thứ tư, đổi mới nội dung sinh hoạt đoàn thể nhằm tái hòa nhập xã hội cho phụ nữ yếu thế. Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Tiền An cần định kỳ hàng tháng tổ chức các câu lạc bộ chia sẻ kinh nghiệm nuôi dạy con, phòng chống bạo lực gia đình và kỹ năng quản lý chi tiêu. Chỉ tiêu đặt ra là thu hút ít nhất 80% phụ nữ thuộc diện nghèo và cận nghèo tham gia sinh hoạt thường xuyên từ năm 2019, xóa bỏ định kiến và xây dựng mạng lưới nâng đỡ lẫn nhau trong cộng đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

Thứ nhất, cán bộ quản lý chính sách an sinh xã hội và công chức phụ trách công tác Lao động - Thương binh và Xã hội cấp xã, phường: Luận văn cung cấp khung phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều theo chỉ số thiếu hụt thực tế, giúp cán bộ cơ sở xây dựng kế hoạch rà soát và phân loại đối tượng chính xác hơn so với cách đánh giá thu nhập truyền thống.

Thứ hai, cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Đây là tài liệu nghiệp vụ hữu ích giúp cán bộ hội nắm vững kỹ năng quản lý 11 tổ vay vốn, cách thức vận dụng các lý thuyết tâm lý học để tiếp cận phụ nữ yếu thế, nâng cao hiệu quả các phong trào thi đua phát triển kinh tế hộ gia đình.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học: Công trình là một nghiên cứu trường hợp thực nghiệm hoàn chỉnh, cung cấp hệ thống dữ liệu thực địa tin cậy cùng các biểu mẫu công cụ đánh giá lâm sàng như cây phả hệ và biểu đồ sinh thái để ứng dụng vào bài giảng và đề tài nghiên cứu.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và các đơn vị điều hành dự án phát triển cộng đồng: Luận văn mang lại góc nhìn thực tế về cấu trúc kinh tế - xã hội vùng nông thôn chuyển dịch, hỗ trợ xây dựng các can thiệp sinh kế thích ứng với nguồn tài nguyên đất đai và đặc thù giới tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tiếp cận vấn đề nghèo đói của phụ nữ theo chuẩn mực nào? Nghiên cứu tiếp cận theo chuẩn nghèo đa chiều quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg cho giai đoạn 2016-2020. Tiêu chí bao gồm thu nhập bình quân đầu người dưới 700.000 đồng/tháng tại khu vực nông thôn và mức độ thiếu hụt từ 3 chỉ số trở lên trong số 10 chỉ số đo lường 5 dịch vụ xã hội cơ bản gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh và thông tin.

Điểm khác biệt cốt lõi giữa trợ giúp truyền thống và công tác xã hội cá nhân là gì? Trợ giúp truyền thống chủ yếu mang tính hỗ trợ vật chất thụ động, trợ cấp một chiều từ ngân sách. Ngược lại, công tác xã hội cá nhân thiết lập mối tương tác 1-1 chuyên nghiệp, vận dụng thuyết nhận thức - hành vi để giúp thân chủ tự nhận diện điểm mạnh, khắc phục rào cản tâm lý và chủ động vươn lên thoát nghèo bền vững.

Tại sao phụ nữ nghèo tại xã Tiền An gặp khó khăn lớn khi tiếp cận vốn vay ngân hàng? Mặc dù có 70,83% phụ nữ có nhu cầu vay vốn, trở ngại lớn nhất là 66,67% đối tượng chỉ có học vấn trung học cơ sở, thiếu kỹ năng lập phương án sản xuất và lo sợ rủi ro thua lỗ không có khả năng trả nợ. Ngoài ra, nhiều mô hình đòi hỏi nguồn vốn đối ứng ban đầu vượt quá khả năng tài chính của hộ nghèo.

Công cụ nào hỗ trợ đắc lực nhất cho nhân viên xã hội trong chẩn đoán ca phụ nữ nghèo? Hai công cụ hiệu quả nhất là Biểu đồ sinh thái (Ecomap) và Cây phả hệ gia đình (Genogram). Các công cụ này giúp nhân viên xã hội trực quan hóa mối liên hệ giữa thân chủ với các tiểu hệ thống như gia đình, họ hàng, 11 tổ vay vốn, trạm y tế và các đoàn thể chính trị, từ đó phát hiện nguồn lực hỗ trợ tiềm năng.

Mô hình sinh kế nào được đánh giá là phù hợp nhất với phụ nữ nghèo tại địa bàn? Mô hình chăn nuôi bò sinh sản kết hợp mở rộng trồng rau an toàn được đánh giá phù hợp nhất. Mô hình này tận dụng triệt để 618,2 ha đất nông nghiệp màu mỡ của xã Tiền An, không đòi hỏi kỹ thuật quá phức tạp, phù hợp với quỹ thời gian vừa lao động vừa chăm sóc gia đình của 13 phụ nữ còn sức lao động.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng của 24 hộ nghèo có phụ nữ làm chủ hộ tại xã Tiền An, chỉ ra rằng 54,17% còn khả năng lao động nhưng bị cản trở bởi trình độ học vấn thấp và tâm lý tự ti.
  • Khẳng định tính hiệu quả của việc vận dụng Lý thuyết Hệ thống, Lý thuyết Nhận thức - Hành vi và Thuyết Thang bậc nhu cầu Maslow trong việc giải mã nguyên nhân gốc rễ của bẫy nghèo đói ở phụ nữ nông thôn.
  • Chuẩn hóa và thực nghiệm thành công tiến trình can thiệp công tác xã hội cá nhân 6 bước kết hợp các công cụ cây phả hệ và biểu đồ sinh thái vào một trường hợp cụ thể tại thôn Cỏ Khê.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết nối các nguồn lực tín dụng từ 11 tổ vay vốn, chương trình đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg và dịch vụ y tế cơ sở.
  • Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp đóng góp vào mục tiêu của địa phương nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo xã Tiền An xuống dưới 0,98% (còn dưới 25 hộ) vào năm 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2019 đến năm 2020, mô hình can thiệp cá nhân cần được nhân rộng ra toàn bộ các xã, phường trên địa bàn thị xã Quảng Yên. Các nhà quản lý chính sách, cán bộ phụ nữ và nhân viên công tác xã hội hãy ứng dụng ngay các phát hiện và khung can thiệp của luận văn này vào hoạt động thực tiễn để bảo vệ và trao quyền toàn diện cho phụ nữ yếu thế.