Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam hiện có khoảng 7,0 triệu người khuyết tật, chiếm xấp xỉ 7,8% dân số cả nước, trong đó nhóm người khuyết tật vận động chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,46%. Dù các chính sách an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm và thu nhập ổn định trên cả nước vẫn duy trì ở mức thấp, chỉ đạt khoảng 30%. Vấn đề rào cản việc làm không chỉ bắt nguồn từ sự suy giảm chức năng thể chất mà còn xuất phát sâu xa từ tâm lý mặc cảm, sự kỳ thị của cộng đồng và thiếu hụt các mô hình can thiệp hỗ trợ chuyên nghiệp tại cơ sở.
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm giải quyết các rào cản tâm lý, nâng cao kỹ năng tìm việc và kết nối cơ hội sinh kế bền vững cho người khuyết tật vận động. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trong khoảng thời gian từ tháng 07 năm 2017 đến tháng 01 năm 2018. Tại địa bàn này, trong tổng số 226 người khuyết tật thì có tới 156 người thuộc dạng tật vận động (chiếm tỷ lệ 69,2%), nhưng chỉ khoảng 5% có việc làm tạo ra thu nhập độc lập.
Ý nghĩa khoa học của công trình thể hiện ở việc hệ thống hóa và bổ sung mô hình can thiệp công tác xã hội nhóm vào hệ thống lý luận trợ giúp sinh kế đặc thù tại Việt Nam. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp giải pháp can thiệp hành động thực tế, giúp 100% đối tượng tham gia nhóm thử nghiệm tại phường Cẩm Trung chuyển biến tích cực về nhận thức tự chủ và xây dựng định hướng nghề nghiệp cụ thể.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng ba hệ thống lý thuyết then chốt của khoa học công tác xã hội:
- Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow: Phân tích 5 bậc nhu cầu từ cơ bản đến tự khẳng định. Với người khuyết tật, việc làm không đơn thuần thỏa mãn nhu cầu sinh lý và an toàn kinh tế mà là phương tiện quyết định để đáp ứng nhu cầu giao lưu xã hội, được tôn trọng và khẳng định giá trị bản thân.
- Thuyết nhận thức - hành vi (CBT): Ứng dụng các luận điểm của Aaron Beck và Albert Bandura cùng mô hình can thiệp của Howard Goldstein. Thuyết này chỉ ra rằng nhận thức sai lệch về bản thân (mặc cảm vô dụng, sợ bị từ chối) dẫn đến hành vi thu mình, thụ động. Can thiệp nhóm giúp tái cấu trúc nhận thức, chuyển hóa hành vi sang chủ động học nghề và tìm kiếm việc làm.
- Thuyết quyền con người: Căn cứ trên Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 và Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật (CRPD) năm 2006 mà Việt Nam phê chuẩn, khẳng định quyền làm việc và tiếp cận cơ hội bình đẳng là quyền cơ bản không thể tước đoạt.
Các khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm: Khuyết tật vận động (theo Nghị định 28/2012/NĐ-CP), Công tác xã hội nhóm, Hòa nhập cộng đồng, Định kiến và phân biệt đối xử.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp đa dạng các nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập khoa học:
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ 08 báo cáo tổng kết giai đoạn 2015 - 2016 của Ủy ban nhân dân và Hội Bảo trợ Người khuyết tật phường Cẩm Trung, kết hợp hồ sơ quản lý 226 người khuyết tật. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp tại thực địa.
- Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với tổng quy mô 11 đối tượng phỏng vấn sâu, bao gồm: 01 lãnh đạo Ủy ban nhân dân phường, 01 cán bộ Hội Bảo trợ Người khuyết tật và Trẻ mồ côi, 02 cán bộ Trạm Y tế, 02 cán bộ đoàn thể địa phương và 05 người khuyết tật vận động trong độ tuổi từ 20 đến 35 tuổi trực tiếp tham gia nhóm hỗ trợ.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp phân tích định tính theo chủ đề kết hợp thống kê mô tả. Phương pháp tiến trình thực hành công tác xã hội nhóm 4 giai đoạn (chuẩn bị thành lập, định hướng hòa nhập, hành động can thiệp, lượng giá kết thúc) được lựa chọn vì tính tương thích cao trong việc theo dõi sự thay đổi nhận thức và hành vi của thân chủ trong suốt 6 tháng can thiệp.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực tế tại phường Cẩm Trung chỉ ra những thực trạng đáng chú ý về cơ cấu đối tượng và sinh kế:
- Thứ nhất, tỷ lệ khuyết tật vận động áp đảo: Trong tổng số 226 người khuyết tật tại địa bàn phường, dạng tật vận động chiếm tới 156 người (tương đương 69,2%), vượt xa các dạng tật thần kinh (13,7%) và giác quan (8,3%). Cơ cấu giới tính ghi nhận 86 nam (55,1%) và 70 nữ (44,9%).
- Thứ hai, mức độ tổn thương kinh tế nghiêm trọng: Thống kê hoàn cảnh sống cho thấy 35,7% hộ gia đình có người khuyết tật thuộc diện khó khăn, 19,9% thuộc hộ nghèo và cận nghèo. Có tới hơn 95% đối tượng sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình hoặc trợ cấp xã hội ít ỏi, trong khi tỷ lệ có việc làm sinh công chỉ đạt khoảng 5%.
- Thứ ba, hiệu quả chuyển đổi từ mô hình nhóm: Sau 12 buổi sinh hoạt nhóm can thiệp chuyên sâu, 100% thành viên nhóm (5/5 người) đã xóa bỏ tâm lý e dè, 80% (4/5 người) chủ động đăng ký các khóa đào tạo nghề phù hợp tại Quảng Ninh (tin học văn phòng, sửa chữa điện thoại, may công nghiệp) và 1 thành viên đã tự tin mở điểm dịch vụ tại nhà.
Thảo luận kết quả
Thực trạng tỷ lệ có việc làm chỉ đạt 5% tại phường Cẩm Trung phản ánh rõ nét mô hình khiếm khuyết xã hội: rào cản lớn nhất không nằm ở đôi chân khiếm khuyết mà nằm ở sự thiếu vắng cơ sở hạ tầng tiếp cận (95% tuyến đường và công trình địa phương chưa có lối đi riêng cho xe lăn) cùng định kiến tuyển dụng của các doanh nghiệp tư nhân.
Dữ liệu nghiên cứu khi trình bày dưới dạng biểu đồ cơ cấu dạng tật thể hiện trực quan tỷ trọng áp đảo của khuyết tật vận động (69,2%), đồng thời bảng phân tầng mức sống minh chứng sự tương quan nghịch giữa mức độ khuyết tật nặng (chiếm 85,4% với 193/226 người) và khả năng độc lập tài chính.
So sánh với các nghiên cứu của Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD) tại khu vực phía Nam cho thấy mô hình nhóm mang lại hiệu ứng cộng hưởng tâm lý vượt trội so với can thiệp cá nhân đơn lẻ. Việc chia sẻ cùng những người đồng cảnh ngộ giúp người khuyết tật vận động tại Cẩm Trung giải tỏa được tâm lý "người thừa", tái tạo động lực hành động và hình thành mạng lưới tương trợ sinh kế vững chắc.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp sinh kế cho người khuyết tật vận động, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Thiết lập mạng lưới nhóm hỗ trợ đồng đẳng: Ủy ban nhân dân và Đoàn Thanh niên phường Cẩm Trung phối hợp chủ trì thành lập các câu lạc bộ sinh kế định kỳ 2 tuần/lần, đặt mục tiêu thu hút ít nhất 40% người khuyết tật vận động còn khả năng lao động tham gia sinh hoạt trước quý 2 năm 2019.
- Mở rộng đào tạo nghề thích ứng: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Cẩm Phả liên kết với các trường trung cấp nghề tổ chức 02 đến 03 lớp dạy nghề miễn phí hàng năm (thương mại điện tử, đồ họa máy tính, làm thủ công mỹ nghệ), cam kết hỗ trợ 100% học phí theo quy định tại Nghị định 28/2012/NĐ-CP.
- Cung cấp gói tín dụng sinh kế ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Cẩm Phả phối hợp với Hội đồng hương, Hội Bảo trợ phân bổ nguồn vốn vay ưu đãi với lãi suất 0% trong 12 tháng đầu cho tối thiểu 15 hộ gia đình có người khuyết tật khởi tạo mô hình kinh doanh nhỏ trước tháng 12 năm 2019.
- Chuẩn hóa năng lực nhân viên công tác xã hội: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng điều hành nhóm và quản lý ca cho 100% cán bộ phụ trách an sinh xã hội cấp xã, phường trên toàn địa bàn trong giai đoạn 2019 - 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và các chỉ số thống kê cụ thể tại cấp cơ sở để xây dựng các chương trình trợ cấp, đào tạo nghề và tạo việc làm thích ứng cho người yếu thế.
- Nhân viên công tác xã hội và các tổ chức phi chính phủ: Nắm bắt cẩm nang quy trình 4 giai đoạn điều hành nhóm hỗ trợ việc làm, áp dụng trực tiếp vào các dự án phát triển cộng đồng và sinh kế hòa nhập.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên chuyên ngành: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về phương pháp ứng dụng thuyết Maslow, thuyết nhận thức - hành vi vào giải quyết vấn đề xã hội thực tiễn tại Việt Nam.
- Gia đình và bản thân người khuyết tật: Tiếp cận các phương pháp tự lực, kỹ năng giải quyết khủng hoảng tâm lý và cách thức tiếp cận các nguồn lực chính sách, vốn vay việc làm tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Công tác xã hội nhóm mang lại lợi ích gì vượt trội so với trợ giúp cá nhân?
Phương pháp nhóm tạo ra môi trường tương tác đồng đẳng, giúp người khuyết tật giảm cảm giác cô lập. Thống kê can thiệp tại Cẩm Trung chứng minh 100% đối tượng tham gia nhóm tăng cường lòng tự trọng và động lực hành động nhanh hơn gấp 2 lần so với việc chỉ tiếp nhận tham vấn cá nhân đơn thuần.
Người khuyết tật vận động tại phường Cẩm Trung chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
Tại phường Cẩm Trung, dạng tật vận động chiếm 69,2% (156 trên tổng số 226 người khuyết tật toàn phường). Trong đó, có 86 nam và 70 nữ, tập trung chủ yếu ở độ tuổi lao động từ 16 đến 45 tuổi (chiếm gần 60%).
Rào cản lớn nhất khiến người khuyết tật khó tiếp cận việc làm là gì?
Rào cản hàng đầu là tâm lý tự ti (chiếm trên 80% qua phỏng vấn sâu) và sự thiếu hụt phương tiện tiếp cận giao thông, cơ sở vật chất thích ứng. Bên cạnh đó, hơn 95% đối tượng chưa qua đào tạo nghề chuyên nghiệp nên khó đáp ứng yêu cầu thị trường.
Tỉnh Quảng Ninh có những chính sách ưu đãi riêng nào cho người khuyết tật?
Quảng Ninh đã ban hành Quyết định 427/2012/QĐ-UBND và Quyết định 292/2016/QĐ-UBND, quy định mức trợ cấp xã hội tại cộng đồng cao hơn chuẩn quốc gia và triển khai đề án hỗ trợ phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng lao động cho người khuyết tật.
Làm sao để nhân rộng mô hình hỗ trợ việc làm nhóm ra các địa phương khác?
Cần thiết lập sự phối hợp liên ngành giữa Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Bảo trợ và nhân viên công tác xã hội chuyên trách; đồng thời lồng ghép chỉ tiêu giải quyết việc làm cho người khuyết tật vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng đời sống và sinh kế của 156 người khuyết tật vận động tại phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm Phả.
- Khẳng định tính đúng đắn của việc vận dụng Thuyết nhu cầu và Thuyết nhận thức - hành vi trong việc thay đổi nhận thức tự ti thành hành vi chủ động tìm kiếm sinh kế.
- Đã thử nghiệm thành công tiến trình công tác xã hội nhóm 4 giai đoạn, giúp 100% đối tượng can thiệp định hướng được nghề nghiệp thực tế.
- Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giữa đào tạo nghề, hỗ trợ vốn tín dụng chính sách và nâng cao năng lực cán bộ an sinh xã hội.
- Kế hoạch tiếp theo cần tập trung số hóa dữ liệu quản lý ca người khuyết tật và mở rộng mô hình nhóm sinh kế trên toàn địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2019 - 2021.
Hãy chủ động áp dụng quy trình công tác xã hội nhóm và kết nối các nguồn lực xã hội hóa ngay hôm nay để mở rộng cơ hội việc làm bình đẳng, bền vững cho người khuyết tật tại mọi cộng đồng!