Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Ủy ban nhân dân xã Ianan, tính đến cuối năm 2014, toàn xã có 197 hộ nghèo, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm hơn 70% tổng số hộ nghèo trên toàn địa bàn. Đặc biệt, tình trạng nghèo tại khu vực mang tính chất kinh niên khi có tới 181 hộ rơi vào cảnh nghèo triền miên và 4 hộ tái nghèo. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chương trình mục tiêu quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020, nhưng công tác giảm nghèo tại các xã biên giới Tây Nguyên vẫn gặp nhiều trở ngại do các can thiệp chủ yếu mang tính hỗ trợ vật chất thụ động, chưa phát huy được nội lực của người dân.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội của tác giả Lê Kim Thắng tập trung nghiên cứu thực trạng nghèo đói, phân tích các rào cản xã hội và xác lập vai trò can thiệp của nghề công tác xã hội đối với người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Nghiên cứu được triển khai thực địa trong thời gian 6 tháng, từ tháng 4/2015 đến tháng 9/2015.

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân tích cơ cấu kinh tế - xã hội, điều kiện sống và các rào cản tâm lý, văn hóa cản trở quá trình thoát nghèo của đồng bào bản địa Jrai. Đóng góp ý nghĩa của luận văn thể hiện qua việc cung cấp các chỉ số định lượng cụ thể về trình độ học vấn, gánh nặng phụ thuộc nhân khẩu và hiệu quả sử dụng đất canh tác. Từ đó, tác giả luận giải sự cần thiết phải chuyển dịch từ phương thức bảo trợ mang tính bao cấp sang mô hình trợ giúp xã hội chuyên nghiệp, hướng tới nâng cao năng lực tự vươn lên và phòng ngừa tái nghèo bền vững cho cộng đồng dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng tích hợp ba khung lý thuyết nền tảng trong khoa học công tác xã hội:

Thứ nhất, Lý thuyết hệ thống tổng quát và Lý thuyết hệ thống sinh thái theo mô hình con người trong môi trường sống của Carel Germain và Alex Gitterman (1980). Lý thuyết này nhìn nhận hộ nghèo dân tộc thiểu số như một tiểu hệ thống chịu tác động trực tiếp và qua lại từ các hệ thống vi mô (gia đình, dòng họ), hệ thống trung gian (buôn làng, các hội đoàn thể địa phương) và hệ thống vĩ mô (chính sách an sinh xã hội, điều kiện tự nhiên vùng biên giới). Nhân viên công tác xã hội cần kích hoạt và kết nối đồng bộ các nguồn lực từ những hệ thống này nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp trợ giúp người nghèo.

Thứ hai, Lý thuyết nhận thức - hành vi của Albert Ellis và Aaron Beck. Lý thuyết chỉ ra rằng nhận thức sai lệch, tâm lý tự ti và thói quen trông chờ vào trợ cấp là tâm điểm dẫn đến các hành vi thụ động trong lao động. Can thiệp công tác xã hội giúp thân chủ nhận diện suy nghĩ hạn chế, tái cấu trúc nhận thức để hình thành ý chí tự lực vươn lên.

Thứ ba, Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow gồm 5 tầng bậc. Mô hình này định hướng việc hỗ trợ phải giải quyết tuần tự từ nhu cầu sinh tồn cơ bản (ăn, ở, nước sạch) trước khi thúc đẩy các nhu cầu phát triển kinh tế và khẳng định bản thân.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng 4 khái niệm công cụ then chốt: Công tác xã hội với người nghèo, Phát triển cộng đồng dựa vào nội lực, Chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg và Dân tộc thiểu số theo tinh thần Nghị định 05/2011/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học:

Về phương pháp khảo sát bảng hỏi: Tác giả thực hiện điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với cỡ mẫu gồm 90 hộ gia đình nghèo dân tộc thiểu số tại 3 làng trọng điểm của xã Ianan: làng Tung (78 hộ nghèo), làng Nú (41 hộ nghèo) và làng Sơn (19 hộ nghèo). Phương pháp này giúp lượng hóa các chỉ báo về thu nhập, chi tiêu, học vấn, nhân khẩu và điều kiện sống của khách thể.

Về phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả thực hiện phỏng vấn định tính chuyên sâu trên 09 mẫu khách thể gồm đại diện các hộ nghèo, già làng có uy tín và cán bộ phụ trách công tác giảm nghèo cấp xã. Phương pháp này giúp giải mã sâu sắc các chuẩn mực văn hóa mẫu hệ, thói quen sinh hoạt và các rào cản vô hình trong tiếp cận chính sách.

Về phương pháp phân tích tài liệu: Nghiên cứu đối chiếu, phân tích các báo cáo thực thi Chương trình 135 giai đoạn I và II, Thông tư 190/2014/TT-BTC về hỗ trợ tiền điện và số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015 của địa phương.

Lý do lựa chọn phương pháp hỗn hợp này xuất phát từ đặc thù địa bàn miền núi biên giới, nơi dữ liệu định lượng cần được bổ trợ bởi các phân tích chiều sâu về nhân học xã hội để phản ánh toàn diện bản chất vấn đề.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên 90 hộ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Ianan mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, về cơ cấu chủ hộ và trình độ học vấn: Phụ nữ làm chủ hộ chiếm tỷ lệ áp đảo với 67,7% (61/90 hộ), phản ánh đặc trưng của chế độ mẫu hệ Jrai. Về học vấn, tỷ lệ chủ hộ mù chữ lên đến 77,8% (70/90 hộ); 17,7% (16/90 hộ) chỉ biết đọc biết viết ở mức tối thiểu nhưng chưa hoàn thành tiểu học; chỉ có 4,4% (4/90 hộ) tốt nghiệp tiểu học và hoàn toàn không có chủ hộ nào đạt trình độ trung học cơ sở trở lên.

Thứ hai, về quy mô nhân khẩu và tỷ lệ phụ thuộc: Có tới 53,3% số hộ (48/90 hộ) có quy mô từ 7 nhân khẩu trở lên; 28,9% (26/90 hộ) có từ 5 đến 6 nhân khẩu. Đáng chú ý, 52,2% số hộ (47/90 hộ) chỉ có từ 1 đến 2 lao động chính, tạo ra gánh nặng phụ thuộc kinh tế rất lớn khi một lao động phải nuôi dưỡng từ 3 đến 4 nhân khẩu không có khả năng tạo thu nhập.

Thứ ba, về nghịch lý đất sản xuất và thu nhập hộ gia đình: 100% hộ nghèo được khảo sát đều sở hữu đất canh tác nông nghiệp. Trong đó, 41,1% hộ có diện tích dưới 1 ha; 28,9% có từ 1 đến 1,5 ha; 23,3% có từ 1,6 đến 2 ha và 6,7% sở hữu trên 2 ha. Tuy nhiên, mức thu nhập bình quân lại rất thấp: 62,2% số hộ (56/90 hộ) chỉ đạt thu nhập từ 2,1 đến 3 triệu đồng/hộ/tháng; 31,1% (28/90 hộ) đạt từ 1,5 đến 2 triệu đồng/hộ/tháng; chỉ có 6,7% đạt trên 3 triệu đồng/hộ/tháng.

Thứ tư, về điều kiện vệ sinh và nước sinh hoạt: Toàn bộ 100% hộ nghèo không có hệ thống nước máy. Người dân vẫn giữ tập quán lấy nước từ các vũng nhỏ đường kính 20 - 30 cm ven suối và bỏ hoang các giếng khơi được nhà nước đầu tư từ năm 2002. Về công trình vệ sinh, 80,0% số hộ (72/90 hộ) sử dụng nhà vệ sinh tạm bợ và 20,0% (18/90 hộ) không có nhà vệ sinh, phóng uế trực tiếp ra môi trường tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích dữ liệu, các bảng đối sánh giữa diện tích đất sở hữu và thu nhập thực tế đã làm sáng tỏ một nghịch lý: sở hữu tư liệu sản xuất nhưng vẫn không tạo ra giá trị thặng dư. Nguyên nhân cốt lõi là do diện tích đất màu mỡ (đất đỏ bazan loại 1) phần lớn đã bị chuyển nhượng cho người Kinh, diện tích đất giữ lại chủ yếu là đất bạc màu, đồi dốc sỏi đá. Bên cạnh đó, người dân canh tác theo phương thức quảng canh, không sử dụng phân bón và phụ thuộc vào tâm lý đám đông. Giai đoạn 2007 - 2008, khi giá mủ cao su tăng cao, nhiều hộ đã chặt bỏ diện tích cây điều đang cho thu hoạch để trồng cao su. Sau 6 năm kiến thiết cơ bản, giá cao su chạm đáy khiến các hộ rơi vào khủng hoảng sinh kế kéo dài.

Biểu đồ nguyên nhân nghèo đói cho thấy nhóm yếu tố nội tại từ bản thân người nghèo (học vấn thấp, thiếu kỹ năng quản lý tài chính, tư tưởng an phận) chiếm tỷ trọng tác động trên 60%. Kết quả này tương đồng với các công bố của Ngân hàng Thế giới và Ủy ban Dân tộc về tình trạng đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam. Sự can thiệp của nhân viên công tác xã hội tại đây mang ý nghĩa quyết định nhằm thực hiện chuyển giao kỹ năng quản trị sinh kế, giúp đồng bào thoát khỏi cái bẫy nghèo đói truyền kiếp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp công tác xã hội đồng bộ:

Thứ nhất, xây dựng mô hình quản lý ca và tư vấn sinh kế hộ gia đình do Nhân viên công tác xã hội cấp xã chủ trì phối hợp với Hội Nông dân. Mục tiêu nhằm nâng mức thu nhập bình quân của 100% hộ nghèo DTTS lên trên 3,5 triệu đồng/hộ/tháng. Lộ trình triển khai thực hiện liên tục từ năm 2016 đến năm 2018, tập trung vào việc hướng dẫn lập kế hoạch sản xuất, kỹ thuật bón phân và chuyển đổi sang mô hình xen canh ngắn ngày lấy ngắn nuôi dài.

Thứ hai, tổ chức các lớp xóa mù chữ chức năng gắn liền với đào tạo nghề nông nghiệp thích ứng do Ủy ban nhân dân xã Ianan phối hợp với Hội Khuyến học và Trạm Khuyến nông huyện Đức Cơ thực hiện. Target metric đặt ra là giảm tỷ lệ mù chữ ở các chủ hộ nghèo từ 77,8% xuống dưới 30% vào năm 2020. Các khóa tập huấn được thiết kế theo dạng hình ảnh trực quan, tổ chức định kỳ hàng quý trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới tài chính vi mô và quản trị rủi ro do Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đức Cơ kết hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ xã điều phối. Giải pháp hướng tới 100% phụ nữ là chủ hộ nghèo được tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi kèm theo khóa tập huấn bắt buộc về kỹ năng hạch toán chi tiêu, chấm dứt tình trạng vay lãi suất cao từ các tư thương thu mua nông sản. Thời gian hoàn thiện mạng lưới trong năm 2017.

Thứ tư, triển khai chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh môi trường và bảo vệ nguồn nước sạch do Trạm Y tế xã, Nhân viên công tác xã hội phối hợp cùng Già làng, Trưởng thôn thực hiện. Chỉ tiêu phấn đấu đạt trên 80% hộ nghèo xây dựng nhà vệ sinh hợp chuẩn và 100% người dân sử dụng nguồn nước giếng đào hợp vệ sinh thay thế cho nước suối tự nhiên. Timeline hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất: Cán bộ hoạch định chính sách tại Ban Dân tộc, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Gia Lai. Luận văn cung cấp bộ dữ liệu thực tế tại cấp xã, giúp cơ quan quản lý điều chỉnh các chính sách an sinh xã hội đặc thù cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên sát với nhu cầu thực tiễn.

Nhóm thứ hai: Đội ngũ nhân viên công tác xã hội và cán bộ giảm nghèo tuyến cơ sở. Tài liệu này đóng vai trò như cẩm nang hướng dẫn phương pháp quản lý ca, kỹ năng tiếp cận thân chủ là đồng bào dân tộc thiểu số và cách thức huy động các nguồn lực cộng đồng.

Nhóm thứ ba: Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ nhân đạo. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu nền tảng chuẩn xác về cấu trúc dân số, sinh kế và vệ sinh môi trường để xây dựng các đề án tài trợ phát triển bền vững tại khu vực biên giới.

Nhóm thứ tư: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học và Phát triển cộng đồng. Đây là nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị về việc ứng dụng lý thuyết hệ thống sinh thái và nhận thức hành vi vào thực tiễn nghiên cứu thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao 100% hộ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Ianan có đất sản xuất nhưng vẫn không thoát nghèo? Nghịch lý này xuất phát từ việc chất lượng đất canh tác còn lại rất kém, chủ yếu là đất sỏi đá bạc màu do diện tích đất đỏ bazan tốt đã bị sang nhượng. Đồng thời, 77,8% chủ hộ mù chữ nên thiếu kiến thức thâm canh, không dùng phân bón và thường xuyên chạy theo phong trào trồng chặt cây công nghiệp khiến đất không sinh lợi tức trong 2 đến 3 năm kiến thiết.

Vai trò nổi bật nhất của nhân viên công tác xã hội trong công tác giảm nghèo là gì? Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò là nhà giáo dục hành vi và người kết nối nguồn lực. Thay vì chỉ trao tặng vật chất mang tính cứu trợ tức thời, nhân viên công tác xã hội trực tiếp đồng hành cùng thân chủ để thay đổi nhận thức thụ động, trang bị kỹ năng quản lý tài chính hộ gia đình và hỗ trợ họ tự xây dựng kế hoạch vươn lên thoát nghèo bền vững.

Chế độ mẫu hệ ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng nghèo của người Jrai tại địa phương? Khảo sát cho thấy phụ nữ làm chủ hộ chiếm tới 67,7% trong tổng số hộ nghèo. Theo tập quán mẫu hệ, phụ nữ phải gánh vác cả việc gia đình lẫn lao động sản xuất. Tuy nhiên, họ lại chịu nhiều thiệt thòi về học vấn và rào cản giao tiếp xã hội, dẫn đến hạn chế nghiêm trọng trong việc tiếp cận tiến bộ kỹ thuật và thị trường tiêu thụ nông sản.

Vì sao các công trình giếng khơi công cộng xây dựng năm 2002 lại bị người dân bỏ hoang? Nguyên nhân do dự án thiếu sự tham vấn văn hóa cộng đồng trước khi triển khai. Người dân địa phương có thói quen lâu đời là dùng nước suối đựng trong quả bầu khô. Sự thất bại của dự án này chứng minh rằng mọi can thiệp kỹ thuật nếu không đi kèm công tác xã hội nhằm truyền thông thay đổi nhận thức sẽ không mang lại hiệu quả thực tế.

Làm thế nào để phòng ngừa tình trạng tái nghèo ở các xã vùng biên giới? Cần thiết lập hệ thống giám sát xã hội định kỳ sau khi hộ gia đình thoát nghèo, đồng thời đa dạng hóa nguồn thu nhập bằng việc xen canh cây ngắn ngày. Việc liên kết mạng lưới tài chính vi mô và trang bị thẻ bảo hiểm y tế là then chốt để bảo vệ người dân trước các cú sốc về giá nông sản hay rủi ro ốm đau bệnh tật.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ bức tranh nghèo đói đa chiều của người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, chỉ ra rào cản học vấn với 77,8% chủ hộ mù chữ và quy mô gia đình đông con là nguyên nhân cốt lõi gây nghèo.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc ứng dụng công tác xã hội chuyên nghiệp nhằm chuyển đổi căn bản từ tư duy bảo trợ thụ động sang phát huy nội lực tự chủ của thân chủ.
  • Đóng góp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác từ 90 hộ khảo sát định lượng và 09 mẫu phỏng vấn sâu, làm giàu thêm cơ sở lý luận về giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc bản địa Tây Nguyên.
  • Đề xuất lộ trình can thiệp giai đoạn 2016 - 2020 tích hợp giữa quản lý ca, xóa mù chữ chức năng, tín dụng vi mô và truyền thông vệ sinh môi trường.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn đẩy mạnh bố trí nhân viên công tác xã hội chuyên trách tại các xã vùng sâu, chung tay hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững theo tinh thần Nghị quyết 80/NQ-CP.