Tổng quan nghiên cứu

Thoát nghèo bền vững là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ hàng đầu mà Việt Nam nỗ lực thực hiện trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Theo thống kê tại huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 đã giảm xuống còn 1.362 hộ, chiếm 5,01% tổng số hộ dân, tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ vẫn chiếm tới 28,8%. Tại xã Quảng Phong – địa bàn trung du ven biển có diện tích tự nhiên 5.187,15 ha với 52,3% đồng bào dân tộc thiểu số – toàn xã ghi nhận 180 hộ nghèo (chiếm 12,54%) và 143 hộ cận nghèo (chiếm 9,97%) vào năm 2017. Đáng chú ý, có tới 46 hộ nghèo do phụ nữ đơn thân hoặc có hoàn cảnh đặc biệt làm chủ hộ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương, khủng hoảng tâm lý và kiệt quệ tài chính của nhóm phụ nữ nghèo đơn thân, vừa gánh vác trách nhiệm kinh tế vừa chăm sóc người phụ thuộc tàn tật. Mục tiêu cụ thể của đề tài nhằm phân tích thực trạng đời sống, đánh giá nhu cầu trợ giúp, và vận dụng trực tiếp tiến trình công tác xã hội cá nhân để can thiệp hỗ trợ thân chủ vượt qua rào cản tự ti, nâng cao thu nhập và tái hòa nhập cộng đồng.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại Thôn 8, xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 2/2018. Ý nghĩa khoa học của công trình là bổ sung nguồn tư liệu thực nghiệm cho chuyên ngành công tác xã hội tại Việt Nam, đồng thời cung cấp mô hình thực hành đo lường hiệu quả can thiệp, tạo cơ sở thực tiễn giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách giảm nghèo đa chiều.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong khoa học xã hội và công tác xã hội:

  1. Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow: Phân tích 5 cấp bậc nhu cầu của con người bao gồm thể chất, an toàn, xã hội, được tôn trọng và hoàn thiện bản thân. Lý thuyết này định vị chính xác thân chủ đang bị ách tắc ở nhu cầu sinh lý và an toàn cơ bản, từ đó giúp nhân viên xã hội xác định lộ trình can thiệp ưu tiên về mặt kinh tế trước khi thúc đẩy các nhu cầu tâm lý bậc cao.
  2. Thuyết hệ thống sinh thái: Nhìn nhận con người trong mối quan hệ đa chiều với môi trường sống thông qua 3 phân hệ: hệ thống phi chính thức (gia đình, láng giềng), hệ thống chính thức (Hội Phụ nữ, Ban Xóa đói giảm nghèo) và hệ thống xã hội (chính sách, cơ sở y tế).

Bên cạnh đó, đề tài làm rõ 3 khái niệm cốt lõi: Nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg với chuẩn nghèo thu nhập nông thôn dưới 700.000 đồng/người/tháng; Phụ nữ nghèo đơn thân là người thiếu hụt nguồn lực kinh tế và trụ cột gia đình; Công tác xã hội cá nhân là phương pháp trợ giúp thông qua mối quan hệ tương tác một-một nhằm khôi phục và phát triển chức năng xã hội của thân chủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phong phú, kết hợp các báo cáo kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2017 của Ủy ban nhân dân xã Quảng Phong và Hội Liên hiệp Phụ nữ xã. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu gồm 14 trường hợp được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích: 1 thân chủ trực tiếp can thiệp, 1 Trưởng ban Xóa đói giảm nghèo xã, 1 Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, 1 Chi hội trưởng phụ nữ Thôn 8 và 10 phụ nữ nghèo đại diện cho địa bàn.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp định tính và định lượng, sử dụng các công cụ chẩn đoán chuyên sâu gồm: Sơ đồ phả hệ (Genogram), Biểu đồ sinh thái (Eco-map), Bảng phân tích điểm mạnh - điểm yếu (SWOT) và Cây vấn đề. Lý do lựa chọn phương pháp can thiệp công tác xã hội cá nhân 7 bước (Tiếp cận, Thu thập thông tin, Chẩn đoán, Lên kế hoạch, Trị liệu, Lượng giá, Kết thúc) là nhằm giải quyết tận gốc các chấn thương tâm lý, rào cản nhận thức và huy động nguồn lực nội lực - ngoại lực chuyên biệt cho từng cá nhân, điều mà các chương trình trợ cấp đại trà chưa thể đáp ứng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tình trạng nghèo đói tại xã Quảng Phong phân bổ không đồng đều và có sự gia tăng gánh nặng lên nữ giới. Tỷ lệ hộ nghèo tại Thôn 9 lên tới 33,0%, Thôn 7 là 19,6%, trong khi Thôn 8 ghi nhận 24 hộ nghèo (13,48%) và 38 hộ cận nghèo (21,34%). Tổng số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ trên toàn xã là 46/180 hộ (chiếm 25,56%). Dù số hộ nghèo do nữ làm chủ đã giảm từ 68 hộ năm 2016 xuống 46 hộ năm 2017, tính bền vững trong thoát nghèo của nhóm này vẫn rất thấp.

Thứ hai, đời sống tinh thần của phụ nữ nghèo bị suy giảm trầm trọng. Khảo sát 10 phụ nữ nghèo trên địa bàn cho thấy có 70% (7/10 người) phản ánh họ hoàn toàn không có thời gian nghỉ ngơi hoặc tham gia các sinh hoạt đoàn thể, văn hóa xã hội do áp lực mưu sinh liên tục.

Thứ ba, nghiên cứu ca điển hình chị Trần Thị Th (sinh năm 1980, Thôn 8) phản ánh rõ nét sự khủng hoảng đa chiều. Chồng mất do tai nạn giao thông năm 2015, chị một mình nuôi 2 con nhỏ, trong đó con trai thứ hai bị khuyết tật vận động toàn thân bẩm sinh. Nguồn thu nhập chỉ trông vào 3 sào ruộng khoán và tiền trợ cấp xã hội 1.080.000 đồng/tháng theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP. Thu nhập thực tế bình quân chỉ đạt 650.000 đồng/người/tháng, rơi vào bẫy nghèo cùng tâm lý tự ti, mặc cảm, khép mình trước sự kỳ thị của cộng đồng.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh nguyên nhân nghèo đói ở phụ nữ bắt nguồn từ sự đan xen giữa thiếu hụt điều kiện sản xuất (vốn, đất đai, tư liệu sản xuất), trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật, và chi phí chăm sóc y tế cho người tàn tật quá cao.

Khi mô hình hóa trên Biểu đồ sinh thái và Cây vấn đề, sự đứt gãy trong các mối liên kết xã hội của thân chủ hiện lên rất rõ: mối quan hệ với hàng xóm và dòng họ mang tính xa cách, nguồn trợ cấp an sinh chỉ mang tính đối phó ngắn hạn. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu về nữ hóa đói nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định rằng việc can thiệp tâm lý kết hợp đào tạo nghề phù hợp với hoàn cảnh gia đình (như mô hình trồng nấm, chăn nuôi gia súc tại nhà) là chìa khóa giúp phụ nữ nghèo khôi phục chức năng xã hội và tự chủ kinh tế dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đổi mới mô hình đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật: Ban Xóa đói giảm nghèo phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Quảng Phong tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật trồng nấm và chăn nuôi bò sinh sản linh hoạt tại gia đình. Mục tiêu đạt 100% phụ nữ nghèo có hoàn cảnh nuôi con khuyết tật được hỗ trợ miễn phí giống, vật tư và hướng dẫn kỹ thuật trong giai đoạn 2018-2020.
  2. Thiết lập kênh tín dụng ưu đãi chuyên biệt: Ủy ban nhân dân xã Quảng Phong và Ngân hàng Chính sách Xã hội cần tạo điều kiện cho các hộ phụ nữ nghèo đơn thân tiếp cận nguồn vốn vay tín chấp từ 30 đến 50 triệu đồng/hộ, kết hợp giám sát sử dụng vốn qua tổ phụ nữ tiết kiệm, nhằm phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ xuống dưới 15% trong vòng 2 năm.
  3. Xây dựng mạng lưới hỗ trợ tâm lý và nhóm tự lực: Hội Phụ nữ Thôn 8 và cấp xã cần thành lập các Câu lạc bộ phụ nữ tự lực, duy trì sinh hoạt định kỳ 2 lần mỗi tháng nhằm tạo không gian chia sẻ, xóa bỏ định kiến xã hội, đồng thời vận động cộng đồng hỗ trợ phương tiện sinh hoạt như xe lăn cho trẻ khuyết tật.
  4. Chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhân viên công tác xã hội cấp cơ sở: Bố trí ít nhất 1 đến 2 cán bộ chuyên trách công tác xã hội tại địa phương để thực hiện quy trình quản lý ca, kịp thời kết nối các chính sách bảo trợ xã hội theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP và Quyết định 59/2015/QĐ-TTg cho các đối tượng bảo trợ đặc thù.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý an sinh xã hội và giảm nghèo cấp huyện, xã: Nắm vững quy trình quản lý ca để rà soát, đánh giá chính xác mức độ thiếu hụt đa chiều của 180 hộ nghèo trên địa bàn, từ đó xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách trợ cấp hiệu quả.
  2. Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Ứng dụng phương pháp tham vấn tâm lý và kỹ năng kết nối nguồn lực cộng đồng trong việc hỗ trợ nhóm phụ nữ đơn thân, yếu thế tại 10 thôn nông thôn và ngư nghiệp.
  3. Giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên ngành Công tác xã hội, Xã hội học: Sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật tham khảo điển hình về thực hành công tác xã hội cá nhân, kỹ thuật vẽ sơ đồ phả hệ, biểu đồ sinh thái trong nghiên cứu thực địa.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và quỹ phát triển cộng đồng: Tham khảo khung can thiệp sinh kế lồng ghép yếu tố giới để xây dựng các dự án viện trợ kinh tế bền vững cho hộ gia đình có người khuyết tật tại vùng ven biển.

Câu hỏi thường gặp

  1. Công tác xã hội cá nhân mang lại ưu thế gì vượt trội so với trợ cấp từ thiện truyền thống? Công tác xã hội cá nhân không chỉ dừng lại ở hỗ trợ vật chất tức thời mà sử dụng tiến trình 7 bước khoa học để khơi dậy nội lực, thay đổi nhận thức, giúp thân chủ giải tỏa tâm lý tự ti và tự xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế bền vững.

  2. Tiêu chuẩn nghèo áp dụng trong đề tài dựa trên cơ sở pháp lý nào? Đề tài áp dụng Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020, quy định mức thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn từ 700.000 đồng/tháng trở xuống hoặc thiếu hụt từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản.

  3. Khó khăn lớn nhất khi thực hiện can thiệp trường hợp chị Trần Thị Th tại Thôn 8 là gì? Khó khăn lớn nhất là rào cản tâm lý mặc cảm, sự kỳ thị của xã hội và áp lực chăm sóc con trai tàn tật bẩm sinh không thể tự phục vụ, khiến thân chủ gần như kiệt quệ tinh thần và không có nguồn thu nhập ngoài 3 sào ruộng.

  4. Biểu đồ sinh thái đóng vai trò như thế nào trong tiến trình chẩn đoán ca? Biểu đồ sinh thái giúp nhân viên xã hội nhận diện trực quan mức độ gắn kết hoặc đứt gãy giữa thân chủ với các hệ thống xung quanh như trạm y tế, trường học, láng giềng và các đoàn thể, từ đó thiết kế lộ trình kết nối nguồn lực chính xác.

  5. Giải pháp sinh kế nào được đánh giá là khả thi nhất cho phụ nữ nghèo có con tàn tật? Mô hình đào tạo nghề trồng nấm và chăn nuôi bò sinh sản tại nhà được đánh giá khả thi nhất vì giúp thân chủ chủ động tạo ra thu nhập từ 2 đến 3 triệu đồng/tháng trong khi vẫn có thời gian chăm sóc con nhỏ khuyết tật.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh nghèo đói tại xã Quảng Phong với 180 hộ nghèo (12,54%), làm sáng tỏ tính chất dễ bị tổn thương của 46 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ.
  • Ứng dụng thành công quy trình công tác xã hội cá nhân 7 bước trên trường hợp thân chủ có hoàn cảnh đặc biệt tại Thôn 8, kết hợp hiệu quả thuyết nhu cầu Maslow và thuyết hệ thống sinh thái.
  • Đưa ra hệ thống công cụ đánh giá khoa học bao gồm sơ đồ phả hệ, biểu đồ sinh thái và cây vấn đề, giúp giải quyết triệt để mối quan hệ giữa khủng hoảng tâm lý và kiệt quệ kinh tế.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao về đào tạo nghề, vốn tín dụng ưu đãi, câu lạc bộ tự lực và chuyên nghiệp hóa nhân viên xã hội cơ sở cho giai đoạn 2018-2020.
  • Nghiên cứu là nguồn tài liệu quý báu, kêu gọi các cơ quan quản lý, tổ chức đoàn thể và cộng đồng học thuật cùng chung tay nhân rộng mô hình công tác xã hội cá nhân nhằm thúc đẩy giảm nghèo bền vững và bình đẳng giới.