Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY 1. Một số vấn đề lý luận chung đối với công tác tôn giáo 1. Một số khái niệm * Khái niệm tôn giáo và hoạt động tôn giáo. - Tôn giáo là một thuật ngữ bắt nguồn từ phương Tây và bản thân nó cũng trải qua thời kì biến đổi lâu dài.
Tôn giáo bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh là “religion”, từ này bắt nguồn từ thuật ngữ La tinh là “legere”, có nghĩa là thu lượm sức mạnh thiên nhiên. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo được các nhà khoa học đưa ra. Các nhà thần học cho rằng: Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thành và con người. Còn các nhà tâm lý học khẳng định rằng: Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong sự cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu người đó chưa từng cô đơn thì chưa bao giờ có tôn giáo.
Ngày nay, định nghĩa về tôi giáo được nhiều người công nhận là khái niệm tôn giáo theo cách tiếp cận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [38, tr. Tác giả Đặng Nghiêm Vạn lại tiếp cận theo khái niệm của Ph.Ăngghen đưa ra: “Tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lược ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức lực lượng siêu trần thế”[56; tr. Từ điển tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa: “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh”[57; tr.
Nhìn chung theo quan niệm của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ nghĩa Mác, con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người. Sự sáng tạo ra tôn giáo của con người được thực hiện qua con đường nhận thức. Chính con người đã tạo ra cái siêu nhiên thần thánh trong đầu óc của mình thuộc lĩnh vực ý thức, niềm tin. Tôn giáo ra đời cùng với sự phát triển của con người và chừng nào con người còn có những mong muốn, ước vọng thì chừng đó tôn giáo còn tồn tại.
Còn tác giả Boungnuene Xaykueyachongtua lại tiếp cận khái niệm về tôn giáo theo quan điểm của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là một niềm tin vào một thế lực thần linh được duy trì trong bộ óc của con người và điều chỉnh mọi hành vi của con người trong cuộc sống hằng ngày, giống như nhân dân các bộ tộc Lào tin vào Đức Phật” [15; tr. Tác giả luận văn đồng ý với các khái niệm trên về tôn giáo và cho rằng: Tôn giáo chính là một hình thái ý thức xã hội được hình thành dựa vào sự tin tưởng, sùng bái thế lực thần thánh, thần linh. Có bốn yếu tố để nhận biết một tôn giáo là: Giáo lý (kinh sách, giáo luật, sấm giảng,.); giáo sĩ (nhà tu hành, chức sắc, chức việc,. - Hoạt động tôn giáo.
Do hiện nay chúng ta đang tiếp cận tôn giáo với tư cách một hình thái ý thức xã hội, nên bất kỳ Nhà nước nào cũng quan tâm đến quản lý hoạt động tôn giáo, trong đó có Nhà nước Lào và Nhà nước Việt Nam. Nghĩa là hoạt động của một tôn giáo có tổ chức bao gồm: (i) Hoạt động truyền bá, nghĩa là tuyên truyền, phổ biến, thuyết phục cho mọi người hiểu về tôn giáo đó và tham gia vào tổ chức tôn giáo đó; (ii) Hoạt động thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, mỗi tôn giáo đều có giáo lý, giáo luật và lễ nghi riêng mà các tín đồ của tôn giáo đó đều tự nguyện tuân theo. Hoạt động thực hành giáo lý, giáo luật và lễ nghi tôn giáo cũng nhằm thoả mãn đức tin tôn giáo của các tín đồ; (iii) Hoạt động quản lý tổ chức của tôn giáo, cũng như bất kỳ một tổ chức nào khác, đã có những quy định thì sẽ phải có hoạt động quản 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lý nhằm đảm bảo cho giáo lý, giáo luật được chấp hành nghiêm túc. Xác định được hoạt động tôn giáo có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra phương thức phù hợp để quản lý tôn giáo đó một cách dễ dàng, hiệu quả hơn [42; tr.
* Khái niệm tin ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng. - Tín ngưỡng là vấn đề đã và đang được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, luận giải. Ở Việt Nam và Lào tín ngưỡng chưa phải là tôn giáo, do chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để được coi là tôn giáo, do vậy các nhà nghiên cứu chỉ coi nó là một loại tôn giáo nguyên thuỷ, sơ khai. Việc phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo cũng chỉ có tính chất tương đối.
Ở Việt Nam và Lào, thuật ngữ tôn giáo được hiểu theo hai nghĩa. Khi nói tự do tín ngưỡng, chúng ta có thể hiểu đó là tự do về ý thức hay tự do về tín ngưỡng tôn giáo. Nếu hiểu tín ngưỡng là ý thức thì tín ngưỡng bao trùm lên tôn giáo, là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành tôn giáo. Không có tín ngưỡng sẽ không có tôn giáo.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa tín ngưỡng là: “Lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo”[57; tr.1646], tức là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo. Theo giải thích của tác giả Đào Duy Anh, tín ngưỡng là: “Lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa”[30; tr. Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục” hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng”.
Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm. Tác giả Boungnuene Xaykueyachongtua trong cuốn Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo của nước CHDCND Lào xuất bản năm 2010 cũng cho rằng: “Tín ngưỡng chính là niềm tin của com người vào những gì đó mà con người cho là thiêng liêng, siêu nhiên” [15; tr. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có một số nhà nghiên cứu quan niệm: Tín ngưỡng là bộ phận quan trọng của tôn giáo, nằm trong khái niệm tôn giáo, là cơ sở hình thành tôn giáo. Tuy nhiên, niềm tin vào cái thiêng liêng đó, cũng theo hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà thể hiện ra dưới các hình thức tín ngưỡng và tôn giáo cụ thể khác nhau như: Tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên,.
Các hình thức tín ngưỡng mang đặc thù theo từng không gian văn hoá, chủ thể văn hoá cũng như thời gian văn hoá cũng như thời gian văn hoá khác nhau nhưng vẫn là biểu hiện niềm tin vào cái thiêng, sự ngưỡng mộ và sùng bái của con người. Do vậy, tín ngưỡng là một hiện tượng văn hoá mang tính lịch sử, một phạm trù lịch sử. Cần phân biệt tín ngưỡng với tập quán và tôn giáo. Từ đó, tín ngưỡng được hiểu một cách khái quát: “Tín ngưỡng là niềm tin, là sự ngưỡng mộ vào các đấng siêu nhiên hay những người được cho là thần thánh ở thế giới siêu thực, có sức mạnh tác động vào đời sống hiện tại của con người nên được tôn thời” [35; tr.11] Dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau, người ta chia tín ngưỡng thành các loại hình như: Tín ngưỡng truyền thống, tín ngưỡng bản địa, tín ngưỡng đa thần, tính ngưỡng độc thần, tín ngưỡng mới,.
- Hoạt động tín ngưỡng. Với mỗi loại hình tín ngưỡng lại có những hoạt động khác nhau. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên có các hoạt động như: Thờ tam phủ, thờ tứ phủ, thờ động vật và thực vật. Tín ngưỡng sùng bái con người có các hoạt động như: Thờ hồn và vía, thờ tổ tiên, thờ tổ nghề, thờ thành hoàng làng, thờ danh nhân,.
Tín ngưỡng sùng bái thần linh lại có các hoạt động: Thờ thổ địa, thờ Thần tài, thờ Táo quân,. Hoạt động tín ngưỡng phổ biến nhất ở Việt Nam và ở Lào là thờ cúng ông bà, tổ tiên; thờ thành hoàng làng, thờ Thổ địa, thờ Thần tài. Việc thờ cúng ông bà tổ tiên là truyền thống tốt đẹp, thể hiện được tinh thần uống nước nhớ nguồn của hai dân tộc. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Khái niệm mê tín dị đoan.
Theo nghĩa Hán - Việt thì “mê” có nghĩa là mờ tối, u mê; “tín” nghĩa là tin tưởng (chữ tín, sự tín nhiệm). “Mê tín” là tin tưởng một cách mê muội, mù quáng. “Dị” là khác, sai; “đoan” nghĩa là chính thống. “Dị đoan” là khác với cái chính thống, hiểu sai lầm một điều đúng đắn.
“Mê tín” và “dị đoan” vốn là hai khái niệm khác nhau, nhưng trong sinh hoạt xã hội, từ lâu hai cụm từ này đã được ghép nối với nhau để nói về sự tin tưởng một cách mù quáng vào cái thần bí, huyền ảo, hoang đường. Theo tác giả Nguyễn Quốc Phẩm “mê tín, dị đoan” thuộc về phần ý thức, nhận thức của con người, “là niềm tin mù quáng vào những điều quái dị, một niềm tin thiếu căn cứ khoa học. Mê tín, dị đoan chỉ xuất hiện trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể biểu hiện trạng thái tâm lý, tình cảm của cá nhân” [50; tr. Các hình thức “mê tín, dị đoan” thường gặp như: - Các hình thức lễ bái, cúng tế, cầu xin như: Cúng cô hồn, cúng sao giải hạn, cầu tài lộc, tình duyên,.
- Các hình thức bói toán như: Xem tướng số, bói chỉ tay, bói bài,. - Các hình thức kiêng kị như: Kiêng đi ngày lẻ, kiêng ra ngõ gặp đàn bà, kiêng mèo vào nhà,. Nhìn chung, các hành vi mê tín, dị đoan rất phong phú và đa dạng. Mê tín dị đoan sinh ra và tích luỹ lại từ sự thiếu hiểu biết của con người trong thời kỳ khoa học chưa phát triển.