Luận văn: Phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước ở Hà Nội

Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước tại thành phố Hà Nội hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước tại Hà Nội

Công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước (DNNKVNN) tại Hà Nội đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố hệ thống tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong nền kinh tế thị trường. Tại thủ đô, nơi tập trung đông đảo doanh nghiệp tư nhân, hoạt động này góp phần đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, duy trì sự ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Theo thống kê, Hà Nội hiện có hơn 120.000 doanh nghiệp tư nhân, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế địa phương. Việc phát triển đảng viên trong môi trường này không chỉ củng cố tổ chức đảng tại doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện cho Đảng nắm bắt tình hình thực tiễn, kịp thời định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh. Công tác này cũng góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho người lao động, đảm bảo sự gắn kết giữa lợi ích doanh nghiệp và mục tiêu phát triển đất nước.

1.1. Khái niệm và vai trò của doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước

Doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước (DNNKVNN) bao gồm doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác ngoài doanh nghiệp nhà nước. Tại Hà Nội, DNNKVNN chiếm tỷ trọng khoảng 95% tổng số doanh nghiệp, đóng góp hơn 70% GDP của thành phố. Tổ chức đảng trong DNNKVNN là hạt nhân chính trị, có nhiệm vụ lãnh đạo doanh nghiệp thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tổ chức đảng tại đây không chỉ quản lý đảng viên mà còn vận động, đoàn kết người lao động, đảm bảo doanh nghiệp hoạt động đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự hiện diện của tổ chức đảng trong DNNKVNN giúp gắn kết lợi ích kinh tế với trách nhiệm chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững.

1.2. Mối quan hệ giữa phát triển đảng viên và xây dựng tổ chức đảng

Phát triển đảng viên trong DNNKVNN là quá trình tuyển chọn, giáo dục và kết nạp những người ưu tú vào Đảng, nhằm mở rộng tổ chức đảng tại doanh nghiệp. Quá trình này gắn liền với việc xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, đảm bảo đủ đảng viên để thành lập chi bộ hoặc đảng bộ cơ sở. Tại Hà Nội, tỷ lệ đảng viên trong DNNKVNN còn thấp, chỉ chiếm khoảng 5-7% tổng số lao động. Điều này đòi hỏi công tác phát triển đảng viên phải được đẩy mạnh, kết hợp với nâng cao chất lượng đảng viên hiện có. Tổ chức đảng trong doanh nghiệp phải thường xuyên bồi dưỡng lý luận, nâng cao năng lực lãnh đạo, đảm bảo đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong môi trường kinh doanh cạnh tranh.

II. Thực trạng và những thách thức trong phát triển đảng viên DNNKVNN tại Hà Nội

Hiện nay, công tác phát triển đảng viên trong DNNKVNN tại Hà Nội đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó nổi bật là tỷ lệ đảng viên thấp, chất lượng đảng viên chưa đồng đều. Theo báo cáo của Thành ủy Hà Nội, tỷ lệ đảng viên trong DNNKVNN chỉ đạt 5,2%, thấp hơn nhiều so với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nguyên nhân chính bao gồm: sự e ngại của doanh nghiệp tư nhân khi kết nạp đảng viên do lo ngại ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh; nhận thức hạn chế của người lao động về vai trò của Đảng; và công tác tuyên truyền, vận động chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, quy trình tuyển chọn đảng viên còn rườm rà, thiếu linh hoạt, chưa phù hợp với đặc thù doanh nghiệp tư nhân. Nhiều tổ chức đảng tại doanh nghiệp chưa chủ động trong công tác phát triển đảng viên, dẫn đến tình trạng thiếu đảng viên có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo doanh nghiệp.

2.1. Những hạn chế trong tuyển chọn và giáo dục đảng viên

Quy trình tuyển chọn đảng viên trong DNNKVNN tại Hà Nội còn nhiều bất cập, đặc biệt là giai đoạn tiền kết nạp. Nhiều doanh nghiệp lo ngại việc kết nạp đảng viên sẽ gây phức tạp trong quan hệ lao động hoặc ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, công tác giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên mới còn chưa sâu rộng, dẫn đến tình trạng đảng viên thiếu hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng. Nhiều tổ chức đảng tại doanh nghiệp chưa xây dựng được kế hoạch đào tạo đảng viên bài bản, thiếu sự kết nối giữa lý luận và thực tiễn sản xuất kinh doanh. Điều này khiến đảng viên khó đáp ứng vai trò lãnh đạo trong doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến công tác phát triển đảng viên

Môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt tại Hà Nội đặt ra thách thức lớn cho công tác phát triển đảng viên trong DNNKVNN. Nhiều doanh nghiệp ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn, ít quan tâm đến hoạt động chính trị, dẫn đến sự thờ ơ của lãnh đạo doanh nghiệp đối với công tác đảng. Người lao động cũng có xu hướng tập trung vào công việc chuyên môn, ít tham gia sinh hoạt đảng. Bên cạnh đó, sự di chuyển lao động giữa các doanh nghiệp khiến công tác quản lý đảng viên gặp khó khăn. Tổ chức đảng tại doanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng đảng viên rời doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự ổn định của tổ chức đảng. Những yếu tố này đòi hỏi Đảng bộ thành phố Hà Nội phải có giải pháp đồng bộ, linh hoạt để thích ứng với thực tế kinh doanh.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển đảng viên trong DNNKVNN tại Hà Nội

Để nâng cao hiệu quả phát triển đảng viên trong DNNKVNN tại Hà Nội, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ đổi mới quy trình tuyển chọn đến nâng cao chất lượng giáo dục đảng viên. Trước hết, cần xây dựng quy trình tuyển chọn linh hoạt, phù hợp với đặc thù doanh nghiệp tư nhân, kết hợp giữa tiêu chuẩn chính trị và năng lực chuyên môn. Tổ chức đảng tại doanh nghiệp phải chủ động tuyên truyền, vận động, giải thích rõ vai trò của Đảng trong phát triển doanh nghiệp, xóa bỏ tâm lý e ngại. Bên cạnh đó, cần tăng cường bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên, gắn lý luận với thực tiễn sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, cần khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp trong công tác đảng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sinh hoạt đảng tại doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đảng viên cũng là xu hướng tất yếu trong thời đại số.

3.1. Đổi mới quy trình tuyển chọn đảng viên

Quy trình tuyển chọn đảng viên trong DNNKVNN cần được đổi mới theo hướng đơn giản, minh bạch, kết hợp giữa tiêu chuẩn chính trị và năng lực chuyên môn. Tổ chức đảng tại doanh nghiệp nên xây dựng tiêu chuẩn rõ ràng, phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo yêu cầu chính trị theo quy định của Đảng. Quy trình nên bao gồm giai đoạn thử thách, trong đó đảng viên tiềm năng được tham gia sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo trong doanh nghiệp. Đánh giá đảng viên tiềm năng cần khách quan, dựa trên kết quả công việc và sự đóng góp cho doanh nghiệp. Ngoài ra, cần tăng cường phối hợp giữa tổ chức đảng doanh nghiệp với cấp ủy địa phương để đảm bảo tuyển chọn đúng đối tượng, tránh tình trạng lợi dụng danh nghĩa Đảng vào mục đích cá nhân.

3.2. Nâng cao chất lượng giáo dục đảng viên

Giáo dục đảng viên trong DNNKVNN cần được nâng cao cả về nội dung và phương pháp. Nội dung giáo dục phải gắn liền với thực tiễn sản xuất kinh doanh, giúp đảng viên hiểu rõ vai trò của Đảng trong phát triển doanh nghiệp. Phương pháp giáo dục cần linh hoạt, kết hợp giữa học tập lý luận với thực hành, tham quan, trao đổi kinh nghiệm. Tổ chức đảng tại doanh nghiệp nên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề,邀请 chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm lãnh đạo doanh nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, cần chú trọng bồi dưỡng năng lực lãnh đạo cho đảng viên, giúp họ đáp ứng yêu cầu quản lý doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đảng viên cũng là giải pháp hiệu quả, giúp mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao chất lượng đào tạo.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho công tác phát triển đảng viên DNNKVNN tại Hà Nội

Công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước tại Hà Nội đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố hệ thống tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay còn nhiều hạn chế, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt từ cả hệ thống chính trị và doanh nghiệp. Các giải pháp đề xuất như đổi mới quy trình tuyển chọn, nâng cao chất lượng giáo dục đảng viên, ứng dụng công nghệ thông tin cần được triển khai đồng bộ. Đặc biệt, sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức đảng doanh nghiệp với cấp ủy địa phương là yếu tố then chốt đảm bảo thành công. Việc nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người lao động về vai trò của Đảng cũng là nhiệm vụ cấp thiết. Thành công của công tác này sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của Thủ đô, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội.

4.1. Tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên trong bối cảnh mới

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, công tác phát triển đảng viên trong DNNKVNN tại Hà Nội càng trở nên quan trọng. Đảng viên trong doanh nghiệp không chỉ là hạt nhân chính trị mà còn là lực lượng nòng cốt trong lãnh đạo sản xuất kinh doanh, đảm bảo doanh nghiệp hoạt động đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự hiện diện của đảng viên trong doanh nghiệp giúp gắn kết lợi ích kinh tế với trách nhiệm chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững. Ngoài ra, đảng viên trong doanh nghiệp còn là cầu nối giữa Đảng với người lao động, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần trách nhiệm của người lao động đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4.2. Định hướng phát triển công tác đảng trong doanh nghiệp thời gian tới

Thời gian tới, công tác phát triển đảng viên trong DNNKVNN tại Hà Nội cần tập trung vào ba hướng chính: thứ nhất, đổi mới quy trình tuyển chọn đảng viên theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù doanh nghiệp tư nhân; thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục đảng viên thông qua ứng dụng công nghệ thông tin và phương pháp đào tạo tiên tiến; thứ ba, tăng cường sự phối hợp giữa tổ chức đảng doanh nghiệp với cấp ủy địa phương, đảm bảo công tác đảng được triển khai thống nhất, hiệu quả. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng đội ngũ đảng viên có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đảng viên cũng là xu hướng tất yếu, giúp nâng cao hiệu quả công tác và mở rộng phạm vi tiếp cận.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước ở thành phố hà nội hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc của đề tài luận văn gồm 03 chương, 07 tiết. 13 hƣơng 1 N ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÔNG T P T TR ỂN ĐẢNG V N TRONG DOAN NG ỆP NGO K U VỰ N NƢỚ 1. Doanh nghiệp và tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nƣớc 1. Doanh nghiệp và doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước - quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, phương thức hoạt động 1.

Quan niệm Theo ách khoa toàn thư mở: oanh nghiệp hay đúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Khoản 10, iều 4 của Luật oanh nghiệp 2020 được Quốc hội nước ộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2020, doanh nghiệp được hiểu như sau: “ oanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [46]. ên cạnh doanh nghiệp nhà nước (DNNN), chúng ta còn biết đến DNNKVNN. ây là loại doanh nghiệp không có vốn đầu tư của nhà nước mà toàn bộ vốn, tài sản lợi nhuận đều thuộc sở hữu của tư nhân hoặc tập thể.

Theo đó, có thể hiểu: DNNKVNN là loại hình doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước (trừ khối hợp tác xã); toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở SXKD chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý. 14 Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, DNNKVNN đã phát triển khá nhanh ở tất cả các vùng và các địa phương trong cả nước, nhiều chỉ tiêu kinh tế cơ bản của loại hình doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng cao hơn DNNN như: số lao động, nguồn vốn, tài sản cố định, doanh thu… Những điều đó cho thấy, DNNKVNN đang là lực lượng chính, ngày càng nâng dần vai trò động lực quan trọng hơn đối với toàn bộ nền kinh tế và được cho là sẽ có vai trò quyết định trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta. Vì vậy, việc phát triển loại hình doanh nghiệp này đang là vấn đề cấp thiết không chỉ để nâng cao sức mạnh nội tại của nền kinh tế nước ta nói chung, sức mạnh của DNNKVNN nói riêng, mà còn để đáp ứng nhu cầu của phát triển kinh tế thị trường. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước Trong thời kỳ đổi mới, ảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vị trí, vai trò của DNNKVNN trong chính sách phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần.

Nhờ vậy, các DNNKVNN không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong những nhân tố chính tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh. Trải qua hơn 30 năm đổi mới, các DNNKVNN đã không chỉ dần được hồi phục mà còn có những bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. ặc biệt là sau ại hội X (năm 2006), khi kinh tế tư nhân được xác định chính thức là thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, không hạn chế về quy mô. Kinh tế tư nhân đã có những đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế ngoài khu vực nhà nước nói chung, nhất là DNNKVNN đã phát triển vượt bậc. Thực tiễn đã khẳng định những đóng góp của khu vực này trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. ùng với sự gia tăng về số lượng và các ngành nghề kinh doanh phong phú, đa dạng của các DNNKVNN như: thương nghiệp, dịch vụ, sản xuất… đã đem lại số thu cho ngân sách nhà nước hàng năm ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. 15 Sự phát triển của khu vực DNNKVNN đã mở mang ra nhiều ngành nghề, thúc đẩy lưu thông hàng hóa.

ã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động hiệu quả, tạo được chỗ đứng trên thị trường. Sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước ưa chuộng. Một số doanh nghiệp đã tạo thêm mặt hàng mới, thị trường mới, sản phẩm đã có sức cạnh tranh. Mặt khác, DNNKVNN còn có vai trò lớn trong việc ổn định nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy quá trình N , đất nước.

Trong giai đoạn 2001-2005, bình quân cả nước tạo việc làm mới cho người lao động được khoảng 1,5 triệu việc làm/năm. Trong đó, DNNKVNN có đóng góp đáng kể, khoảng 0,3 triệu việc làm/năm. Nhiều đối tượng lao động như: người đến tuổi lao động cần việc làm; lao động dôi dư từ các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế, giải thể, chuyển đổi, phá sản; lao động nông nhàn trong nông nghiệp do chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển sang làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. DNNKVNN còn có khả năng thu hút vốn trong xã hội nhanh, hiệu quả đầu tư vốn cao tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội, góp phần tích tụ tập trung tư bản tạo điều kiện để tái sản xuất làm tăng nhanh nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tóm lại, DNNKVNN có vị trí, vai trò đối với nền kinh tế ngày càng quan trọng. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển DNNKVNN là nhân tố không chỉ bảo đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng P cao, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn tham gia vào giải quyết hàng loạt những vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực. DNNKVNN liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng 16 thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội. Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước - Thứ nhất, DNNKVNN xét dưới góc độ sở hữu bao gồm tất cả các đơn vị hay tổ chức kinh tế thuộc sở hữu của một người hay một nhóm người.

Quyền sở hữu này được xác định dựa trên quá trình huy động hình thành nên nguồn vốn hoạt động cho đơn vị kinh tế đó và được pháp luật thừa nhận. iều này khác cơ bản với các doanh nghiệp quốc doanh, hay doanh nghiệp nhà nước, khi mà nguồn vốn hình thành nên các doanh nghiệp nhà nước được ngân sách nhà nước cấp, nghĩa là từ sự đóng góp của toàn dân (nguồn thu từ thuế). Tuy nhiên, DNNKVNN không bao gồm tất cả các doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, không có phần sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp. Trong nền kinh tế mở, các quốc gia có sự thông thương nhất định, các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh được thành lập, nhưng rõ ràng là không nên xếp chúng vào doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Vì chúng không có tính đồng nhất về mặt sở hữu, một doanh nghiệp liên doanh có thể là sự liên doanh giữa hai công dân thuộc hai nước khác nhau, liên doanh giữa hai tổ chức hay liên doanh giữa hai chính phủ, còn doanh nghiệp nước ngoài thì càng không thể khẳng định nó thuộc sở hữu nhà nước hay tư nhân. - Thứ hai, tính chất hoạt động và các ảnh hưởng của doanh nghiệp nước ngoài khác so với các doanh nghiệp trong nước, chúng vận hành theo một bộ luật riêng thường là luật đầu tư nước ngoài và ảnh hưởng lên một số khía cạnh đặc thù trong nền kinh tế như cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, tài trợ xuất nhập khẩu. Vì vậy, ở đây chúng ta không xếp các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài như một bộ phận của khu vực kinh tế ngoài khu vực nhà nước. Như vậy, DNNKVNN ở nước ta hiện nay chính là các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, đó là các đơn vị kinh tế tồn tại dưới các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh 17 nghiệp tư nhân, do một hay nhiều người đứng ra làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình (hữu hạn hay vô hạn) về mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

ác loại hình DNNKVNN gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. ác doanh nghiệp này có thể có quy mô sản xuất, vốn, lao động, công nghệ rất đa dạng; ngành nghề sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực: xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ… ù tên gọi, quy mô, ngành nghề SXKD của các doanh nghiệp ngoài nhà nước có khác nhau, nhưng đều có cùng bản chất là Nhà nước không nắm quyền chi phối vốn điều lệ của doanh nghiệp, mà vốn điều lệ của doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cùng góp vốn đầu tư SXKD với lao động của chính bản thân, gia đình, thuê mướn lao động một phần hay hoàn toàn. o đó, mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp là do chính doanh nghiệp quyết định theo quy định của pháp luật. ồng thời, tự chịu trách nhiệm toàn bộ về mọi hoạt động SXKD và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối trực tiếp, gián tiếp nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý nhà nước các cấp về việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.

Tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước – khái niệm, đặc điểm hoạt động, chức năng, nhiệm vụ và vai trò 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ