Luận văn phát triển đảng viên người dân tộc thiểu số tại Yên Sơn, Tuyên Quang

Tìm hiểu thực trạng và giải pháp trong công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số của Đảng bộ huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

138
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác phát triển đảng viên DTTS huyện Yên Sơn

Công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số (DTTS) đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Đảng tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Với hơn 70% dân số là đồng bào DTTS, huyện có điều kiện thuận lợi để tuyển chọn đảng viên từ các tộc người như Tày, Nùng, Dao. Đảng ủy huyện xác định đây là nhiệm vụ chiến lược nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng. Quá trình phát triển đảng viên DTTS phải tuân thủ nguyên tắc kết nạp đúng tiêu chuẩn, đảm bảo chất lượng và tính đại diện. Theo thống kê, tỷ lệ đảng viên DTTS tại Yên Sơn chiếm khoảng 35% tổng số đảng viên, góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị địa phương.

1.1. Vai trò của đảng viên DTTS trong hệ thống chính trị huyện Yên Sơn

Đảng viên DTTS tại Yên Sơn đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa Đảng với cộng đồng dân tộc thiểu số. Họ tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước, vận động nhân dân thực hiện đường lối chủ trương của Đảng. Với hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán, đảng viên DTTS giúp tổ chức đảng triển khai hiệu quả các chính sách dân tộc. Đặc biệt, họ góp phần ngăn chặn sự xâm nhập của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc. Theo báo cáo của Đảng ủy huyện, những đảng viên DTTS xuất thân từ cộng đồng có tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ cao hơn so với các đảng viên khác.

1.2. Đặc điểm dân tộc tại huyện Yên Sơn ảnh hưởng đến công tác phát triển đảng viên

Huyện Yên Sơn có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó Tày và Nùng chiếm đa số. Sự đa dạng văn hóa, ngôn ngữ tạo thuận lợi cho Đảng tuyển chọn đảng viên từ nhiều tộc người. Tuy nhiên, trình độ dân trí không đồng đều giữa các dân tộc gây khó khăn trong việc phổ biến đường lối chính sách. Các hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan vẫn tồn tại ở một số cộng đồng, ảnh hưởng đến nhận thức chính trị. Đảng ủy huyện phải xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với đặc thù từng tộc người, đảm bảo đảng viên mới nắm vững chủ nghĩa Mác-Lênin.

II. Thực trạng công tác phát triển đảng viên DTTS huyện Yên Sơn hiện nay

Công tác phát triển đảng viên DTTS tại huyện Yên Sơn đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Trong giai đoạn 2016-2021, huyện kết nạp được 285 đảng viên DTTS, chiếm 42% tổng số đảng viên mới. Tuy nhiên, tỷ lệ đảng viên DTTS so với dân số DTTS chỉ đạt 5,2%, thấp hơn mức trung bình của tỉnh. Nguyên nhân chính là do nhận thức chính trị của một bộ phận đồng bào còn hạn chế, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của Đảng. Ngoài ra, điều kiện kinh tế khó khăn khiến nhiều thanh niên DTTS phải đi xuất khẩu lao động, thiếu vắng nguồn nhân lực tiềm năng. Một số cán bộ đảng viên còn e ngại trong công tác vận động, kết nạp do lo ngại rủi ro chính trị.

2.1. Những kết quả đạt được trong giai đoạn vừa qua

Đảng ủy huyện Yên Sơn đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường công tác phát triển đảng viên DTTS. Đến nay, đã có 15 chi bộ thôn, bản vùng sâu vùng xa có đảng viên DTTS, nâng tỷ lệ bao phủ đảng ở các địa bàn này lên 95%. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chính trị cho đảng viên DTTS được tổ chức định kỳ, góp phần nâng cao chất lượng đảng viên. Điển hình là mô hình 'Đảng viên DTTS gương mẫu' được nhân rộng tại 20 xã, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng. Kết quả khảo sát năm 2021 cho thấy 85% đảng viên DTTS được kết nạp trong 5 năm qua vẫn duy trì được phẩm chất đạo đức.

2.2. Những tồn tại hạn chế cần khắc phục

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát triển đảng viên DTTS vẫn còn nhiều tồn tại. Tỷ lệ đảng viên DTTS chưa tương xứng với tỷ lệ dân số DTTS (72%), đặc biệt tại các xã vùng sâu như Chiêu Yên, Trung Trực. Nhiều đảng viên DTTS sau khi kết nạp không tham gia sinh hoạt đảng đều đặn do công việc sản xuất xa xôi. Tình trạng đảng viên DTTS vi phạm kỷ luật đảng chiếm 8% trong 3 năm qua, chủ yếu do thiếu hiểu biết pháp luật. Một số cán bộ đảng viên thiếu nhiệt tình, còn tư tưởng thành tích trong công tác phát triển đảng viên.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển đảng viên DTTS huyện Yên Sơn

Để nâng cao hiệu quả công tác phát triển đảng viên DTTS, huyện Yên Sơn cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị cho thanh niên DTTS thông qua các hình thức phù hợp như sinh hoạt cộng đồng, hội thi tìm hiểu Đảng. Đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc có chuyên môn, am hiểu phong tục tập quán từng tộc người. Cải tiến quy trình kết nạp, đơn giản hóa thủ tục nhưng vẫn đảm bảo chất lượng. Đẩy mạnh hợp tác với các doanh nghiệp tạo việc làm tại chỗ cho thanh niên DTTS, hạn chế tình trạng di cư lao động. Đẩy mạnh phong trào thi đua 'Dân tộc đoàn kết xây dựng Đảng' trong toàn huyện.

3.1. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền chính trị

Công tác tuyên truyền cần đổi mới hình thức để phù hợp với đặc thù văn hóa DTTS. Sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong các tài liệu tuyên truyền, tổ chức hội nghị bằng tiếng Tày, Nùng. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản trong vận động quần chúng. Xây dựng các tủ sách chính trị lưu động phục vụ các thôn bản vùng sâu. Đẩy mạnh tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh xã, trạm phát thanh thôn. Theo dõi, biểu dương kịp thời những đảng viên DTTS tiêu biểu để nhân rộng điển hình.

3.2. Đổi mới phương thức kết nạp đảng viên phù hợp

Thủ tục kết nạp cần được đơn giản hóa nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc Đảng. Áp dụng hình thức kết nạp tập thể tại các thôn bản đông đồng bào DTTS. Tổ chức các lớp bồi dưỡng chính trị ngắn hạn cho người giới thiệu đảng viên. Xây dựng tiêu chuẩn đảng viên DTTS phù hợp với đặc thù từng tộc người. Tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình phát triển đảng viên từ khi giới thiệu đến khi kết nạp. Phát huy vai trò của chi ủy thôn trong sàng lọc, giới thiệu đảng viên tiềm năng.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho Đảng bộ huyện Yên Sơn

Công tác phát triển đảng viên DTTS tại huyện Yên Sơn đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Để nâng cao hiệu quả, huyện cần tập trung vào ba nhóm giải pháp chính: nâng cao nhận thức chính trị cho cộng đồng DTTS, cải tiến quy trình kết nạp đảng viên, và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc chuyên nghiệp. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần tăng tỷ lệ đảng viên DTTS lên 10% vào năm 2025. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng trong bối cảnh mới. Đảng ủy huyện cần thường xuyên đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện phương thức lãnh đạo.

4.1. Đánh giá chung về công tác phát triển đảng viên DTTS

Sau hơn 5 năm triển khai, công tác phát triển đảng viên DTTS tại Yên Sơn đã có những bước tiến nhất định. Tỷ lệ đảng viên DTTS tăng từ 3,8% năm 2016 lên 5,2% năm 2021. Chất lượng đảng viên được nâng lên thông qua các chương trình đào tạo. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách lớn so với mục tiêu đề ra. Những hạn chế chủ yếu xuất phát từ nhận thức chính trị chưa đầy đủ của cộng đồng, điều kiện kinh tế khó khăn, và thiếu lực lượng cán bộ chuyên trách. Đánh giá toàn diện giúp xác định đúng trọng tâm giải pháp trong giai đoạn tiếp theo.

4.2. Định hướng phát triển đảng viên DTTS trong giai đoạn mới

Trong giai đoạn 2021-2025, huyện Yên Sơn đặt mục tiêu kết nạp 500 đảng viên DTTS, nâng tỷ lệ lên 8% tổng số đảng viên. Tập trung vào 3 xã trọng điểm là Chiêu Yên, Trung Trực, và Phúc Ninh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đảng viên. Xây dựng ngân hàng dữ liệu đảng viên DTTS theo từng tộc người. Tăng cường hợp tác với các trường đại học, cao đẳng tuyển sinh sinh viên DTTS. Đánh giá định kỳ 6 tháng/lần để kịp thời điều chỉnh phương thức lãnh đạo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số của đảng bộ huyện yên sơn tỉnh tuyên quang hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Vị trí, vai trò của đảng viên và điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên với đối tượng là người dân tộc thiểu số 1. Vị trí, vai trò của đảng viênlà người dân tộc thiểu số Đảng là tổ chức của những người tiền tiến nhất của giai cấp, có cùng lý tưởng, mục tiêu đứng vào trong hàng ngũ để cùng nhau thực hiện mục tiêu của giai cấp mình. Vì thế, mỗi đảng viên của đảng là một “tế bào” cấu thành nên đảng.

Đảng viên có vị trí, vai trò quan trọng trong việc hình thành nên đảng. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của đảng, cũng như vai trò lãnh đạo của đảng có được thực hiện hay không là do từng đảng viên của đảng. Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc chung sống, có sự đoàn kết gắn bó chặt chẽ với nhau trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Với vai trò lãnh đạo toàn diện đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, vị trí, vai trò của đảng viên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc triển khai các nội dung lãnh đạo của Đảng.

Và trong vai trò đó, đảng viên là người DTTS cũng đóng góp vị trí, vai trò quan trọng đối với việc triển khai các nội dung lãnh đạo của Đảng ở địa phương, đặc biệt ở các địa phương miền núi, nơi có đông đảo đồng bào DTTS sinh sống, với những đặc trưng văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ riêng. Vì vậy, có thể khẳng định, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, xét trong mối quan hệ về vị trí, vai trò thì đảng viên của Đảng nói chung và đảng viên là người DTTS ở miền núi nói riêng thể hiện vị trí, vai trò ở những điểm cơ bản sau: Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất từ cấp Trung ương đến chi bộ cơ sở. Mỗi chi bộ cơ sở là gốc rễ của Đảng và mỗi đảng viên là một tế bào của gốc rễ đó, làm nên tổ chức Đảng rộng 12 lớn và mạnh mẽ. Mỗi đảng viên mạnh sẽ góp phần làm cho Đảng mạnh.

Sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng được hình thành nên từ chính mỗi đảng viên. Số lượng đảng viên càng lớn, chất lượng đội ngũ đảng viên càng cao thì sức của Đảng càng mạnh mẽ, vai trò lãnh đạo của Đảng càng tăng. Điều này hoàn toàn đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người khẳng định: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt.

Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”[ 44,tr. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của Đảng, đảng viên là người DTTS ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn chiếm tỷ lệ thấp. Đặc biệt ở một số vùng đồng bào DTTS còn là vùng trắng không có đảng viên, không có tổ chức đảng ở cơ sở. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện các vấn đề về phát triển xã hội, việc địa bàn trắng đảng viên, không có tổ chức cơ sở đảng gây nên những khó khăn trong lãnh chỉ đạo quá trình phát triển của địa phương.

Hơn nữa, đồng bào DTTS thường sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, có ý nghĩa là “phên dậu” của quốc gia. Vì vậy, công tác phát triển đảng viên là người DTTS, chi bộ đảng ở vùng đồng bào DTTS có ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình bảo vệ và phát triển của địa phương nói riêng và đất nước nói chung. Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng là do sự vận động nội tại của cách mạng, cũng như do yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng là thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng, đối với sự phát triển của đất nước trước hết và chủ yếu thông qua đội ngũ đảng viên. Đội ngũ đảng viên là cầu nối để đưa lý luận, chủ trương, chiến lược, sách lược cách mạng của Đảng vào trong các phong trào cách mạng của quần chúng, giáo dục, tuyên truyền, chỉ ra cho quần chúng nhân dân con đường đấu tranh để đi tới mục tiêu, giành được những lợi ích cho mình, cho dân tộc mình. Đồng thời, với vai trò nêu gương, đảng viên còn là những chiến sĩ cách mạng, luôn tiên phong trong các phong trào cách mạng, là đầu tàu gương mẫu cho quần chúng nhân 13 dân hành động theo, đưa quần chúng nhân dân đi theo đúng mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đã xác định cho nhân dân lao động, cho dân tộc. Như vậy, đảng viên là người DTTS sẽ là những người gần gũi, hiểu rõ phong tục tập quán, lối sống, ngôn ngữ… của đồng bào mình, vì vậy có thể tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đồng bào một cách thân tình, dễ hiểu nhất.

Hơn nữa, cùng sinh sống trên địa bàn là cơ sở thuận lợi để đảng viên là người DTTS nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, để nói tiếng nói của đồng bào lên với Đảng và Chính phủ. Với những tấm gương đảng viên là người DTTS thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm giàu cho gia đình, làm giàu cho quê hương là tiếng nói thuyết phục nhất cho sự đúng đắn của chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, đảng viên là người DTTS có vị trí, vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và tổ chức thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước. Thứ ba, được đứng vào trong hàng ngũ của Đảng, đảng viên gắn liền với sự tồn tại và phát triển của tổ chức Đảng, cụ thể là chi bộ nơi mình sinh hoạt, chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát của chi bộ Đảng.

Mỗi chi bộ mạnh đảm bảo cho từng đảng viên mạnh, đảng viên mạnh làm cho chi bộ mạnh. Chất lượng đội ngũ đảng viên ngày càng cao, nội bộ đảng càngđoàn kết, thống nhất thì uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng cao. Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với những vùng đồng bào DTTS còn trắng đảng viên, hay vùng chưa đủ điều kiện để thành lập chi bộ thì công tác phát triển đảng viên là người DTTS có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết phát triển xã hội của địa phương. Không có chi bộ cơ sở vững mạnh sẽ không có lực lượng lãnh đạo tại chỗ cho những vấn đề của cơ sở, thiếu tính liên tục, sát hợp trong quá trình phát triển của địa phương.

Thứ tư, Đảng lãnh đạo bằng công tác cán bộ. Vì vậy, đảng viên của Đảng là lực lượng, là cơ sở chủ yếu để xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng. Xây dựng được đội ngũ 14 đảng viên ưu tú quyết định đến việc cung cấp cho Đảng, Nhà nước và nhân dân những cán bộ tốt, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ. Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng, xây dựng đội ngũ cán bộ là người DTTS là vấn đề được Đảng quan tâm.

Công tác giáo dục đối với con em là người dân tộc được Đảng và Nhà nước triển khai sớm với những trường dân tộc nội trú, trường thanh niên lao động được thành lập, đã đáp ứng yêu cầu tạo nguồn cán bộ cho miền núi, tạo nguồn đội ngũ cán bộ người DTTS. Đối với vùng đồng bào DTTS, tỉ lệ cán bộ là người DTTS là một yêu cầu trong cơ cấu đội ngũ cán bộ. Vì thế, phát triển đảng viên là người DTTS có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong tạo nguồn cán bộ cho địa phương, thôn, bản. Thứ năm, Đảng chỉ có thể thực hiện được mối quan hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân thông qua đội ngũ đảng viên của mình.

Đảng viên là người trực tiếp xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với Nhân dân và tổ chức cho Nhân dân thực hiện, đồng thời lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân phản ánh cho Đảng để đề ra chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn cuộc sống, với nguyện vọng của Nhân dân. Cán bộ, đảng viên là người DTTS gần như có lợi thế tuyệt đối so với cán bộ, đảng viên dân tộc Kinh trong việc thể hiện mối quan hệ gắn bó với cộng đồng dân cư, đồng bào nơi sinh sống. Vì thế, phát triển đảng viên là người DTTS có ý nghĩa quyết định trong xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, đồng bào ở vùng đồng bào DTTS. Như vậy, sự hình thành và phát triển của Đảng, mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng, sự thành công hay thất bại của của sự nghiệp cách mạng.

trước hết và chủ yếu phụ thuộc vào vai trò của đội ngũ đảng viên của Đảng dù thuộc thành phần dân tộc hay giai cấp xuất thân nào. Đảng có số lượng đảng viên đông đảo, có chất lượng cao, cơ cấu hợp lý thì năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của 15 Đảng càng cao, lãnh đạo cách mạng càng dễ giành thắng lợi, và ngược lại. Đảng viên và chất lượng đảng viên là nhân tố có ư nghĩa quyết định sự tồn tại, phát triển của Đảng và sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, phát triển đảng viên là công tác quan trọng của Đảng, phải được thực hiện thường xuyên, trên cơ sở những điều kiện và tiêu chuẩn do Đảng quy định theo yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.

Điều kiện để trở thành đảng viên, tiêu chuẩn đảng viên 1. Điều kiện để trở thành đảng viên Một chính đảng ra đời là do sự liên kết của những người tiên tiến, tiêu biểu của giai cấp, có cùng chung một mục đích và được xã hội thừa nhận. Sự liên kết của những đại biểu tiên tiến nhất của giai cấp dựa trên một hệ tư tưởng, với hệ thống quan điểm chung thống nhất và có những nguyên tắc nhất định để đảm bảo sự liên kết giữa các thành viên. Đảng Cộng sản là tổ chức chính trị của giai cấp công nhân, mang bản chất của giai cấp công nhân, đại biểu cho quyền và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ