phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết. 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Liên quan đến đề tài nghiên cứu, nhiều công trình đã góp phần giải đáp những đòi hỏi bức thiết của thực tế đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và vận động nhân dân tham gia XDNTM nói riêng, điển hình là: 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƢỚC NGOÀI 1. Các công trình nghiên cứu về nông thôn, xây dựng nông thôn mới Robert Chambers (1991), Phát triển nông thôn - hãy bắt đầu từ những người cùng khổ [103].
Cuốn sách chỉ ra xu hướng sai lệch trong cách nhìn nhận về sự đói nghèo ở nông thôn từ đó giúp thay đổi nhận thức về người nghèo ở nông thôn. Ông đã viết giới thiệu về phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA: Participatory Rural Appraisal). PRA giúp cho người dân nông thôn có thể chia sẻ, củng cố và phân tích kiến thức hiểu biết của họ về cuộc sống, điều kiện sống; cũng như lập kế hoạch, thực hiện và giám sát và đánh giá. Cán bộ khuyến nông chỉ hoạt động như những người trợ giúp, đóng vai trò hỗ trợ hay thúc đẩy trong toàn bộ tiến trình đánh giá, chính người dân và cộng đồng địa phương mới là những người thực hiện và quản lý quá trình phát triển của chính họ thông qua một loạt các công cụ liên tục được cải biến và hoàn thiện.
Dakley, Peter et al (1991), Dự án phát triển con người: Nghiên cứu thực tiễn trong phát triển nông thôn [162]. Cuốn sách cho thấy giải pháp phát triển nông thôn phải theo hướng bền vững, kết hợp hài hoà việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên với nguồn lực con người, tạo được cơ chế để người nông dân tham gia vào thực thi, kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án về xây dựng và phát triển nông thôn. Hum Pheng Xay Na Sỉn (2001), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay [68]. Luận án nghiên cứu về nguyên tắc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và những vấn đề có tính quy luật của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Lào.Tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hoạch định chính sách phù hợp để thúc đẩy nhanh tiến trình này theo hướng tiến bộ từ việc phân tích, đánh giá thực trạng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Lào, Dang Guoying, Transl:Wang Pingxing (2006), Agriculture, rural areas and farmers in China [163].
Cuốn sách khái quát chung về nông nghiệp, các vùng nông thôn ở Trung Quốc. Phân tích tình hình kinh tế xã hội nông thôn Trung Quốc; sự thành 8 luan an thị hoá và sự luân chuyển dân số nông thôn ra thành thị và đưa ra một số phương hướng, giải pháp phát triển để xây dựng một số vùng nông thôn mới Trung Quốc. Keng Lao Blia Yao (2007), Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Lào từ 1975 đến 2000 [73]. Luận án đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn của Lào từ năm 1975 đến 1985.
Tác giả phân tích quá trình thực hiện chính sách đổi mới và thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Lào trong những năm 1986- 2000; đưa ra một số nhận xét, đánh giá về quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Lào giai đoạn 1975-2000. Cuốn sách cho thấy tiềm năng mang lại từ nông nghiệp đô thị là rất lớn, có vai trò rất quan trọng trong quá trình đô thị hóa và phát triển ở các đô thị lớn trên thế giới với chức năng: 1) Bảo đảm an ninh lương thực và dinh dưỡng cho vùng đô thị; 2) Phát triển kinh tế nông thôn; 3) Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn; 4) Góp phần vào việc quản lý môi trường đô thị. Phát triển nông nghiệp đô thị sẽ góp phần: 1) Cải thiện mức sống của người thành thị; 2) Tận dụng các chất thải từ đô thị và công nghiệp để làm phân bón và đưa đất hoang hóa vào sử dụng. Trác Vệ Hoa (2008), Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc 30 năm qua [126].
Cuốn sách đã cho thấy sự phân kỳ phát triển của nông thôn Trung Quốc qua 30 năm với bốn giai đoạn: từ năm 1978 đến năm 1984 là giai đoạn đột phá cải cách nông thôn; từ năm 1985 đến năm 1991 là giai đoạn thúc đẩy cải cách toàn diện nông thôn; từ năm 1992 đến năm 2001 là giai đoạn cải cách nông thôn chuyển toàn diện sang thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (XHCN); từ năm 2002 đến nay là giai đoạn mới tính toán tổng thể phát triển thành thị và nông thôn, xây dựng nông thôn mới XHCN. Tác giả khái quát những thành tựu quan trọng, rút ra một số kinh nghiệm, đồng thời nêu lên một số giải pháp thúc đẩy tích cực XDNTM ở Trung Quốc. Cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu về thực trạng và những biến đổi của nông thôn Trung Quốc trong tiến trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Khái quát các vấn đề mang tích chất lý luận về nguồn gốc hình thành và đặc trưng tiêu biểu của “tam nông”ở Trung Quốc.
9 luan an Tưởng Kiến Trung (2009), “Nguồn gốc, những kinh nghiệm quý báu và ý nghĩa của phong trào xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc” [127]. Cuốn sách đã chỉ ra những nét tương đồng trong quá trình triển khai chương trình XDNTM ở Hàn Quốc và Việt Nam; tập trung làm rõ những kinh nghiệm trong quá trình huy động các nguồn lực cho XDNTM ở Hàn Quốc bên cạnh các nguồn lực hỗ trợ từ Chính phủ. Đây được coi là một trong những kinh nghiệm bổ ích, có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình XDNTM. Bun Thong Chít ma ni (2011), Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay [21].
Luận án làm rõ nội hàm quan niệm về NTM, đặc trưng XDNTM ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào; Tác giả trình bày khái niệm, quan niệm, nội dung, phương thức Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo XDNTM từ đó rút ra những kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp có tính đặc thù, khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong việc XDNTM hiện nay. Quỹ nghiên cứu phát triển Trung Quốc (2017), với nghiên cứu China's Rural Areas: Building a Moderately Prosperous Society (Các khu vực nông thôn của Trung Quốc: Xây dựng một xã hội thịnh vượng vừa phải) [167]. Cuốn sách cung cấp và phân tích có hệ thống, toàn diện về tình hình các vùng nông thôn của Trung Quốc. Sự thịnh vượng của người dân Trung Quốc đã tăng lên rất nhiều trong những thập kỷ gần đây.
Tuy nhiên, ở nhiều khía cạnh, Trung Quốc vẫn là một nước đang phát triển, điều này đặc biệt đúng đối với khu vực nông thôn, nơi chưa có tiến bộ kinh tế rõ rệt như các khu vực thành thị và là nơi có nhiều người vẫn sống trong tình trạng đói nghèo. Meyer - Clement and Zeuthen (2020), nghiên cứu China’s rural urbanization and the state: Putting the countryside first (Đô thị hóa nông thôn Trung Quốc và hiện trạng: đặt nông thôn lên hàng đầu)[168]. Bài viết phân tích rõ đô thị hóa hiện nay ở Trung Quốc là kết quả của quá trình công nghiệp hóa kéo lao động nông thôn dư thừa về thành phố, và tình trạng thiếu thốn ở nông thôn đẩy nông dân ra khỏi nông thôn. Đồng thời cho biết một trong những biện pháp để giảm bớt áp lực lên các thành phố có dòng người di cư từ nông thôn là nỗ lực của chính phủ Trung Quốc nhằm thúc đẩy sự phát triển của các thành phố và thị trấn nhỏ ở các vùng nông thôn.
Các công trình nghiên cứu về xã, chính quyền xã Marguerite J. Bishop, “Municipal and other local governments” [166]. Tác giả chỉ ra chính quyền địa phương có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp 10 luan an đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân, vì đó không chỉ là nơi cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho công dân như: giao thông vận tải, y tế, giáo dục, việc làm…mà còn là “sân khấu” cho các hoạt động công dân, là trường học của quyền công dân, nơi người dân có cơ hội được thực tế trải nghiệm quyền làm chủ thuộc về “chúng ta”. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng là “phòng thí nghiệm”cho những ứng dụng công nghệ và chính sách mới của chính phủ và các hoạt động quản lý.
Ngô Lý Tài, Cải cách và xây dựng lại - Nghiên cứu chế độ hương trấn Trung Quốc [93]. Cuốn sách đã luận giải vai trò Chính quyền nhân dân hương trấn, cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở. Chính quyền hương trấn ở Trung Quốc có vai trò quan trọng, trực tiếp đại diện cho sự quản lý của nhà nước đối với xã hội nông thôn. Sự quản lý của nhà nước đối với xã hội nông thôn một cách tốt hay xấu, là do những việc làm trong thực tế của tổ chức quản lý của chính quyền cơ sở.
Chỉ ra mối quan hệ giữa nhà nước với nông dân chính từ sự gắn bó chủ yếu thông qua tổ chức chính quyền hương trấn với nông dân. Khăm mon chăn thạ chít, Cải cách bộ máy hành chính nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào [76]. Luận án đưa ra cơ sở lý luận trong việc phân cấp quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương ở Lào. La Chay Sinh Su Van, Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn Lào hiện nay [81].
Luận án khái quát lý luận và thực tiễn về HTCT cấp cơ sở ở nông thôn Lào; đánh giá thực trạng, xác định phương hướng và giải pháp đổi mới HTCT cơ sở ở nông thôn Lào trong đó phân tích một số luận cứ xác định tầm quan trọng của giải pháp đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở ở nông thôn Lào. Các công trình nghiên cứu về công tác dân vận và công tác dân vận của chính quyền Xay phon Thôm Pa Đít (2009), “Một số thành quả trong việc xây dựng cơ sở chính trị và phát triển cụm bản Na Lâu Chom Ong, huyện Xay, tỉnh U đôm Xay” [159]. Bài viết nêu lên một số bài học kinh nghiệm quý báu trong việc vận động xây dựng, phát triển cụm bản, cấp cơ sở thấp nhất ở Lào.