Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế quốc dân, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa bảo đảm an ninh lương thực - thực phẩm thiết yếu cho xã hội, vừa cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, tạo nguồn thu ngoại tệ qua xuất khẩu và cung ứng lao động cho các lĩnh vực kinh tế khác. Tại các vùng nông thôn miền núi, hoạt động sản xuất nông nghiệp còn gắn liền với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị - xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường.

Xã La Bằng (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) là một địa bàn thuần nông có điểm xuất phát thấp với trên 91,2% lao động xã hội làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Năng suất lao động và hiệu quả khai thác tài nguyên đất đai tại địa phương trong giai đoạn trước còn nhiều hạn chế. Mặc dù địa phương đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2014, hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp, nhưng quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn:

  • Tình trạng thiếu đất sản xuất nông nghiệp do diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối.
  • Mạng lưới thủy lợi nội đồng dù đã kiên cố hóa được một phần nhưng vẫn còn nhiều tuyến mương là kênh đất, dẫn tới hiện tượng rò rỉ nước, gây khó khăn cho việc điều tiết nước tưới tiêu.
  • Một bộ phận nhân dân còn mang nặng tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước mà chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ thể trong sản xuất.
  • Công tác tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc của đội ngũ cán bộ cơ sở trong việc lập và giám sát thực hiện kế hoạch sản xuất đôi lúc còn thiếu quyết liệt, vẫn còn hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm.

Trước thực tiễn đó, việc nghiên cứu quy trình xây dựng và đánh giá kết quả triển khai các phương án, kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại cơ sở là yêu cầu cấp thiết nhằm giúp chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế điều hành, khai thác tối đa tiềm năng đất đai, tăng năng suất cây trồng - vật nuôi và nâng cao thu nhập cho người dân.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Về chuyên môn: Gắn kết hệ thống lý thuyết kinh tế nông nghiệp đã học với thực tiễn sản xuất tại cơ sở; rèn luyện khả năng phân tích độc lập và làm việc nhóm; đánh giá thực trạng công tác xây dựng và kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại xã La Bằng; nhận diện các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kế hoạch sản xuất tại địa phương.
  2. Về thái độ: Thể hiện tinh thần cầu thị, khiêm tốn, nghiêm túc trong công tác thu thập số liệu và tiếp cận thực tế cộng đồng dân cư.
  3. Về kỹ năng: Phát triển tư duy nghiên cứu, rèn luyện tác phong làm việc công sở tại Ủy ban nhân dân cấp xã và nâng cao kỹ năng xử lý thông tin thực địa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp (bao gồm các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp) và các nhân tố kinh tế - xã hội liên quan.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (gồm 10 xóm: La Nạc, Lau Sau, La Bằng, Đồng Tiến, La Cút, Rừng Vần, Kẹm, Tiến Thành, Đồng Đình, Non Bẹo).
  • Phạm vi thời gian: Đợt thực tập thu thập số liệu thực địa diễn ra từ ngày 14/02/2017 đến ngày 14/05/2017; các dữ liệu thứ cấp về kinh tế - xã hội và sản xuất nông nghiệp được tổng hợp, đánh giá trong giai đoạn 3 năm từ 2014 đến 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm nền tảng về hoạt động xây dựng, dự án phát triển nông thôn, nông nghiệp và phân định các hình thái sản xuất nông nghiệp:

  • Nông nghiệp sinh nhai (nông nghiệp thuần nông): Đặc trưng bởi nguồn lực đầu vào hạn chế, không áp dụng cơ giới hóa, sản phẩm đầu ra chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu tự cấp tự túc của gia đình nông dân.
  • Nông nghiệp chuyên sâu: Hình thái sản xuất có mức độ chuyên môn hóa cao trong tất cả các khâu, ứng dụng mạnh mẽ máy móc thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống lai tạo chọn lọc; đầu ra hướng tới mục tiêu thương mại, bán hàng hóa trên thị trường hoặc xuất khẩu để đạt hiệu quả tài chính tối ưu.
  • Kế hoạch sản xuất nông nghiệp: Quy trình xác định mục tiêu, loại hình sản phẩm, nguồn lực, chi phí, tiến độ thời gian và giải pháp kỹ thuật để tổ chức sản xuất nông - lâm - thủy sản trên địa bàn cấp xã. Một kế hoạch toàn diện phải giải quyết 7 câu hỏi trọng tâm: sản phẩm sản xuất là gì; mục tiêu cụ thể; thời điểm bắt đầu - kết thúc; nguồn lực huy động; chi phí dự toán; phương thức tổ chức sản xuất; kết quả và hiệu quả mang lại.

Khung pháp lý điều chỉnh: Nội dung quy hoạch và lập kế hoạch sản xuất nông nghiệp được tác giả soi chiếu qua hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước:

  • Nghị định số 01/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (Luật số 29/2004/QH11).
  • Nghị định số 92/2006/NĐ-CP và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP về lập, phê duyệt, quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
  • Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.
  • Quyết định số 124/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông lâm nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
  • Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
  • Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT hướng dẫn thực hiện Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt.
  • Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT và Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
  • Các Nghị định 64/CP, 01/CP, 02/CP về giao đất nông lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, tổ chức.

Bài học kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương:

  • Xã Đông Bắc (huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình): Kinh nghiệm tập trung vào năng lực chỉ đạo mùa vụ đồng loạt của chính quyền, vai trò cung ứng giống và kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh kịp thời của cán bộ khuyến nông, giúp tăng năng suất lúa từ 45 tạ/ha lên 70 tạ/ha.
  • Xã Thượng Lâm (huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang): Bài học về đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp (trên 100 máy làm đất, máy tuốt lúa liên hoàn, máy tẽ ngô), phát triển kinh tế tập thể qua các hợp tác xã và tổ hợp tác, kết hợp kiên cố hóa trên 130 km đường giao thông nông thôn.
  • Xã Yên Hồ (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh): Kinh nghiệm bám sát đặc điểm chất đất và diễn biến thời tiết để điều chỉnh lịch gieo cấy lúa vụ Chiêm và Hè Thu nhằm né tránh mùa bão lũ thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 9 âm lịch.

Phương pháp nghiên cứu thực hiện:

  • Phương pháp thu thập số liệu kế thừa: Thu thập có chọn lọc các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, báo cáo ngành nông - lâm nghiệp của xã La Bằng giai đoạn 2014 - 2016, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và các số liệu khí tượng thủy văn.
  • Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Tiếp cận bán chính quy liên ngành để huy động tri thức bản địa, đúc rút kinh nghiệm sản xuất thực tế.
  • Phương pháp thảo luận: Trao đổi nhóm nhằm phân tích đa chiều các vấn đề khó khăn trong thực hiện lịch thời vụ và tiêu thụ nông sản.
  • Phương pháp tham vấn và quan sát: Gặp gỡ, phỏng vấn sâu lãnh đạo địa phương (Chủ tịch UBND xã) kết hợp quan sát trực tiếp các hoạt động canh tác ngoài đồng ruộng mà không can thiệp vào hành vi tự nhiên của đối tượng.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Tổng hợp, phân nhóm, tính toán cơ cấu tỷ lệ phần trăm, lập các bảng số liệu và biểu đồ để phản ánh quy mô, động thái biến động của cây trồng, vật nuôi và diện tích đất đai.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc điểm của xã La Bằng - một xã miền núi có trên 91,2% lao động gắn với nông nghiệp. Khóa luận xác lập mục tiêu nghiên cứu gồm ba cấu phần: chuyên môn, thái độ và kỹ năng. Địa điểm nghiên cứu đặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã La Bằng, thời gian khảo sát thực tế từ 14/02/2017 đến 14/05/2017. Hệ thống các phương pháp nghiên cứu được xác định rõ ràng gồm kế thừa tài liệu, PRA, thảo luận, tham vấn, quan sát thực địa và phân tích thống kê mô tả.

Phần 2: Tổng quan

Chương này tập trung làm rõ cơ sở lý luận về quản lý sản xuất nông nghiệp, phân biệt giữa nông nghiệp sinh nhai và chuyên sâu, nêu bật 7 câu hỏi mấu chốt của một bản kế hoạch sản xuất. Tác giả trích dẫn 12 văn bản pháp quy của Chính phủ và các Bộ ngành làm căn cứ pháp lý cho công tác lập kế hoạch cấp cơ sở. Đồng thời, phần tổng quan phân tích sâu 3 bài học thực tiễn từ xã Đông Bắc (Hòa Bình) về chỉ đạo khuyến nông, xã Thượng Lâm (Tuyên Quang) về cơ giới hóa và xã Yên Hồ (Hà Tĩnh) về ứng phó lũ lụt; từ đó rút ra bài học cho xã La Bằng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đẩy mạnh máy móc và tuân thủ chặt chẽ lịch thời vụ.

Phần 3: Kết quả thực tập

Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội xã La Bằng

Xã La Bằng nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 35 km và cách trung tâm huyện Đại Từ 10 km, tiếp giáp các xã Phú Xuyên, Bản Ngoại, Hoàng Nông và huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang). Độ cao trung bình khoảng 200m so với mực nước biển, độ dốc 10 - 15 độ, chia thành vùng đồi bát úp (trồng chè, cây ăn quả) và vùng đồng bằng nhỏ hẹp (trồng lúa, hoa màu). Khí hậu mang tính chất cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình 23 - 25°C, lượng mưa từ 1500 - 2500 mm (trong đó 87% tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, riêng tháng 8 chiếm gần 30% dễ gây lũ quét). Dòng suối Tiên Sa chảy dọc xã đổ vào sông Công là nguồn cấp nước chính và có tiềm năng du lịch sinh thái.

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2231,69 ha. Hiện trạng phân bổ đất đai năm 2016 được ghi nhận như sau:

STT Chỉ tiêu sử dụng đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
1 Đất nông nghiệp 2042,46 91,52
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 511,96 22,94
- Đất trồng cây hàng năm 180,57 8,09
- Đất trồng cây lâu năm 331,39 14,85
1.2 Đất nuôi trồng thủy sản 21,40 0,96
1.3 Đất lâm nghiệp 1509,10 67,62
2 Đất phi nông nghiệp 185,13 8,30
2.1 Đất chuyên dùng 57,30 2,57
2.2 Đất ở 36,62 1,64
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0,40 0,02
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 2,50 0,11
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 36,62 1,64
3 Đất chưa sử dụng 4,10 0,18
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 3,20 0,14
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 0,90 0,04
- Tổng diện tích tự nhiên 2231,69 100,00

Về nhân khẩu, xã gồm 10 xóm với 8 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Kinh chiếm 45%, còn lại là Tày, Nùng, Dao, Mường, Hoa... Năm 2016, số hộ đạt 1050 hộ với 4278 nhân khẩu, gia tăng đáng kể so với 1010 hộ và 3869 nhân khẩu năm 2015 do biến động cơ học (lao động đi làm ăn xa trở về).

Về cơ sở hạ tầng, xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2014, cứng hóa 14,7 km đường trục xã, 6,1 km đường trục xóm, 12,18 km đường ngõ xóm và 13,44 km kênh mương (trên tổng số 24,4 km kênh mương nội đồng). Tuy nhiên, hệ thống điện lưới vào mùa chế biến chè cao điểm thường xuyên quá tải, đặc biệt khu vực xóm Đồng Đình ở cuối nguồn.

Thực trạng phát triển trồng trọt và chăn nuôi giai đoạn 2014 - 2016

Trong ngành trồng trọt, lúa, màu và chè là 3 cây trồng chủ lực. Tình hình sản xuất được tổng hợp qua bảng số liệu:

Loại cây trồng Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
DT (ha) NS (tạ/ha) SL (tấn) DT (ha) NS (tạ/ha) SL (tấn) DT (ha) NS (tạ/ha) SL (tấn)
Cây lúa 390,3 56,50 2205,2 390,0 56,55 2205,5 384,0 57,05 2190,7
Cây màu 128,0 173,10 2215,3 130,7 169,40 2214,5 109,0 197,40 2152,0
Cây chè 238,5 115,00 2742,7 238,5 97,50 2325,0 270,0 112,00 3024,0
Tổng cộng 756,8 344,60 7163,2 759,2 323,45 6745,0 763,0 366,45 7366,7

Cây chè là cây trồng hàng hóa mang lại giá trị kinh tế cao nhất cho người dân La Bằng. Năm 2015, do hạn hán kéo dài, sản lượng chè giảm xuống 2325 tấn với năng suất chỉ đạt 97,5 tạ/ha. Đến năm 2016, diện tích chè tăng lên 270 ha (nhờ có thêm 5 ha chè non đến kỳ thu hoạch), sản lượng đạt 3024 tấn, chiếm 35,39% tổng diện tích gieo trồng toàn xã. Dù vậy, đợt nắng hạn năm 2016 cũng khiến khoảng 8,5 ha chè tại một số xóm bị chết.

Trong ngành chăn nuôi, cơ cấu đàn vật nuôi có sự biến động rõ nét giữa các loài qua 3 năm:

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 So sánh 2015/2014 (%) So sánh 2016/2015 (%)
Đàn trâu Con 183 195 134 106,56 68,72
Đàn lợn Con 1778 2345 2850 131,89 121,53
Đàn gia cầm Con 45.381 42.850 45.200 94,42 105,48

Đàn trâu giảm mạnh vào năm 2016 (giảm 31,28% so với năm 2015) do xu hướng đưa máy móc cơ giới hóa vào khâu làm đất thay thế sức kéo và diện tích bãi chăn thả tự nhiên bị thu hẹp. Đàn lợn tăng trưởng liên tục, đạt 2850 con năm 2016 do sự hình thành của các gia trại, trang trại. Đàn gia cầm sau khi sụt giảm 2531 con năm 2015 do dịch bệnh đã phục hồi trở lại mức 45.200 con vào năm 2016 nhờ địa phương kiểm soát tốt công tác tiêm phòng (tụ huyết trùng, dịch tả, tai xanh, lở mồm long móng).

Về lâm nghiệp, năm 2015 nhân dân trồng 10 ha rừng phân tán. Năm 2016 diện tích trồng mới phân tán là 5 ha, tuy nhiên công tác phòng cháy rừng còn sơ hở, để xảy ra 2 vụ cháy rừng vào ngày 10/7 tại xóm La Cút và ngày 13/7 tại xóm Kẹm. Hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đạt giá trị khiêm tốn 5,5 tỷ đồng năm 2016.

Bộ máy và việc thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2016

Đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2016 của xã gồm 17 người:

  • Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy: 02 người (trình độ Đại học), phụ trách định hướng chỉ đạo chung.
  • Phó Chủ tịch UBND xã: 01 người (Đại học), đảm nhiệm Trưởng ban chỉ đạo kế hoạch.
  • Chủ tịch Hội Nông dân: 01 người (Đại học), Phó ban chỉ đạo sản xuất và vận động nông dân.
  • Cán bộ Khuyến nông: 01 người (Đại học), phụ trách hướng dẫn giống, vật tư và kỹ thuật canh tác.
  • Chủ nhiệm Hợp tác xã: 02 người (Cao đẳng), tham gia xây dựng ý kiến và tổng hợp báo cáo.
  • Trưởng thôn (xóm): 07 người (Trung cấp), tham gia đóng góp ý kiến thực địa từ các khu dân cư.
  • Giám đốc các doanh nghiệp trên địa bàn: 03 người (Đại học), tư vấn về thị trường đầu vào và đầu ra.

Kết quả tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp vụ đông năm 2016:

STT Chỉ tiêu cây trồng Kế hoạch (ha) Thực hiện (ha) Tỷ lệ TH/KH (%) Đánh giá
1 Đất trồng lúa 384,0 380,0 98,96 Chưa đạt
2 Đất trồng ngô 2,0 2,0 100,00 Đạt
3 Đất trồng khoai lang 10,0 12,0 120,00 Vượt kế hoạch
4 Đất trồng rau các loại 58,0 56,0 96,55 Chưa đạt
5 Đất trồng sắn 11,9 15,9 133,61 Vượt kế hoạch
6 Đất trồng cải 16,9 14,9 88,17 Chưa đạt

Đánh giá từ tác giả và kết quả phỏng vấn sâu lãnh đạo xã cho thấy: Diện tích lúa, rau và cải không hoàn thành kế hoạch do sâu bệnh phát sinh khiến người dân tự ý chuyển dịch sang các loại cây có giá trị kinh tế hoặc ít chi phí chăm sóc hơn (khoai lang, sắn vượt từ 20% đến 33,61%). Mặt khác, một bộ phận nông dân đi làm ăn xa không kịp về theo khung thời vụ. Nguyên nhân quản lý xuất phát từ việc cán bộ phụ trách chưa bám sát địa bàn, công tác đôn đốc thiếu thường xuyên và vẫn còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong chỉ đạo mùa vụ.

Phần 4: Kết luận

Khóa luận tổng kết lại vai trò quan trọng của sản xuất nông nghiệp đối với kinh tế địa phương; đánh giá toàn diện các chỉ tiêu kinh tế đạt được trong năm 2016 như thu ngân sách đạt 5,144 tỷ đồng (vượt 2,11 tỷ so với kế hoạch), thu nhập bình quân đầu người đạt 38,6 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 97,2%. Đồng thời, tác giả khẳng định việc bám sát thời vụ, phát huy vai trò của hợp tác xã và nâng cao trách nhiệm cán bộ khuyến nông là nhân tố quyết định hiệu quả kế hoạch sản xuất tại xã La Bằng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính dựa trên số liệu thực tế:

  • Xã La Bằng đã giữ vững các tiêu chí nông thôn mới, chuyển dịch thành công cơ cấu kinh tế nội ngành nông nghiệp với cây chè là sản phẩm mũi nhọn: Diện tích chè năm 2016 đạt 270 ha, sản lượng thu hoạch đạt 3024 tấn (vượt xa chỉ tiêu kế hoạch ban đầu là 2552 tấn); diện tích chè trồng mới và trồng lại hoàn thành 20,3 ha (vượt mục tiêu 12 ha).
  • Tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất gia tăng dẫn đến sự sụt giảm hợp lý của đàn trâu (từ 195 con năm 2015 xuống 134 con năm 2016); mô hình chăn nuôi chuyển dịch dần sang gia trại, trang trại tập trung giúp đàn lợn tăng đều đặn qua các năm (từ 1778 con năm 2014 lên 2850 con năm 2016).
  • Thu nhập bình quân đầu người toàn xã năm 2016 đạt 38,6 triệu đồng/người/năm (tăng 1,1 triệu đồng so với kế hoạch); tỷ lệ người có việc làm thường xuyên đạt 97,2% (vượt mức kế hoạch 96%).
  • Chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất vụ đông 2016 và thực tế triển khai: Cây lương thực và rau vụ đông truyền thống như lúa (đạt 98,96%), rau các loại (đạt 96,55%), cải (đạt 88,17%) chưa đạt kế hoạch; ngược lại diện tích sắn (đạt 133,61%) và khoai lang (đạt 120%) vượt kế hoạch do biến động thị trường và thói quen canh tác tự phát của người dân.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Kiện toàn bộ máy quản lý và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chuyên môn: Khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, gắn trách nhiệm của từng cán bộ phụ trách với chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch tại từng xóm; tăng cường kiểm tra, đôn đốc lịch thời vụ.
  • Phát triển mạng lưới dịch vụ khuyến nông và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: Chú trọng cung ứng kịp thời cơ cấu giống cây trồng chất lượng cao, vật tư bảo vệ thực vật chính hãng; hỗ trợ kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh để bảo đảm năng suất và an toàn thực phẩm.
  • Đầu tư đồng bộ hạ tầng phục vụ sản xuất: Tiếp tục kiên cố hóa các đoạn kênh đất bị rò rỉ nước (hiện toàn xã mới kiên cố hóa được 13,44 km trên tổng số 24,4 km kênh mương); nâng cấp hệ thống trạm biến áp và đường dây điện sinh hoạt - sản xuất nhằm chấm dứt tình trạng cắt điện luân phiên và sụt áp trong vụ cao điểm chế biến chè tại xóm Đồng Đình.
  • Tổ chức lại sản xuất và liên kết thị trường: Phát triển các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác làm cầu nối cung cấp dịch vụ đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra, giảm thiểu tình trạng chênh lệch giá giữa nơi sản xuất và thị trường tiêu thụ.

Đóng góp của khóa luận: Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa chi tiết hiện trạng sản xuất nông nghiệp cấp xã trong giai đoạn chuyển đổi sau khi đạt chuẩn nông thôn mới. Khác với các báo cáo hành chính tổng kết định kỳ thường chỉ nêu thành tích chung, nghiên cứu đã thẳng thắn đối chiếu bảng số liệu kế hoạch và thực hiện vụ đông 2016, chỉ ra nguyên nhân chủ quan từ năng lực điều hành của bộ máy xã và tâm lý ỷ lại của một bộ phận nông dân, cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ việc điều chỉnh kế hoạch sản xuất nông nghiệp các năm tiếp theo tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa tương đối ngắn (3 tháng, từ ngày 14/02/2017 đến ngày 14/05/2017), trùng vào giai đoạn đầu vụ xuân nên tác giả chưa thể theo dõi trọn vẹn chu kỳ sản xuất cả năm tại thực địa mà phải dựa nhiều vào tài liệu thứ cấp hồi cứu.
  • Nguồn tài liệu chuyên khảo và số liệu lưu trữ chi tiết về kế hoạch sản xuất tại cơ sở còn hạn chế; một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chưa được cập nhật liên tục qua các năm.
  • Thiết bị phục vụ khảo sát thực địa còn thiếu thốn (chưa trang bị máy ảnh, máy ghi âm chuyên dụng), ảnh hưởng phần nào đến khả năng ghi nhận trực quan và thu thập phỏng vấn sâu.
  • Phạm vi nghiên cứu mới giới hạn trong địa bàn một đơn vị hành chính cấp xã (xã La Bằng), do đó các kết luận chưa phản ánh hết tính đa dạng của các tiểu vùng sinh thái khác trên địa bàn huyện Đại Từ.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Mở rộng phạm vi đánh giá trên quy mô toàn huyện Đại Từ hoặc so sánh đối chứng giữa các xã thuần nông có địa hình trung du miền núi tương đồng.
  • Đi sâu nghiên cứu chuỗi giá trị và hiệu quả tài chính của sản phẩm chè La Bằng từ khâu sản xuất, chế biến sâu đến xây dựng thương hiệu nông sản hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn an toàn (VietGAP) trên thị trường tiêu thụ.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tư liệu thực tế hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý đất đai: Tài liệu cung cấp mẫu hình nghiên cứu thực tế tại cấp xã, cách thức tiếp cận và xử lý bảng biểu thống kê hiện trạng sử dụng đất, cân đối cơ cấu cây trồng - vật nuôi và phương pháp điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA).
  • Đối với cán bộ làm công tác kế hoạch, khuyến nông, địa chính cấp xã: Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực về quy trình bố trí nhân sự tổ chức xây dựng kế hoạch (với cơ cấu 17 thành viên đại diện cho cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, hợp tác xã, trưởng xóm và doanh nghiệp); nhận diện các rủi ro mùa vụ, tình trạng thiếu điện chế biến và rò rỉ kênh mương để chủ động giải quyết.
  • Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống số liệu chi tiết về biến động năng suất, diện tích của cây chè giai đoạn 2014 - 2016 và bảng đối chiếu kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất vụ đông 2016, phản ánh chân thực độ lệch giữa chỉ tiêu hành chính và hành vi canh tác thực tế của hộ nông dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Hiện trạng phân bổ đất nông nghiệp tại xã La Bằng năm 2016 có đặc điểm gì nổi bật? Theo số liệu thống kê địa chính của xã La Bằng năm 2016, đất nông nghiệp chiếm tới 2042,46 ha (tương đương 91,52% tổng diện tích tự nhiên 2231,69 ha). Trong đó, đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất với 1509,10 ha (chiếm 67,62% tổng diện tích tự nhiên). Đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 511,96 ha (chiếm 22,94%), bao gồm đất trồng cây lâu năm 331,39 ha (chủ yếu là đất trồng chè) và đất trồng cây hàng năm 180,57 ha; đất nuôi trồng thủy sản chiếm 21,40 ha.

2. Tình hình phát triển của cây chè tại xã La Bằng trong giai đoạn 2014 - 2016 diễn biến ra sao? Cây chè là cây trồng hàng hóa chủ lực. Trong hai năm 2014 - 2015, diện tích duy trì ở mức 238,5 ha. Năm 2014 sản lượng đạt 2742,7 tấn (năng suất 115 tạ/ha), nhưng năm 2015 do nắng hạn kéo dài trong chính vụ nên sản lượng giảm còn 2325 tấn (năng suất 97,5 tạ/ha). Sang năm 2016, nhờ bổ sung 5 ha chè non đưa vào khai thác, diện tích chè tăng lên 270 ha, sản lượng đạt 3024 tấn (năng suất 112 tạ/ha), chiếm 35,39% tổng diện tích gieo trồng toàn xã. Diện tích chè trồng mới và trồng lại năm 2016 đạt 20,3 ha (vượt mức kế hoạch 12 ha), mặc dù khô hạn vẫn làm chết khoảng 8,5 ha chè tại một số xóm.

3. Tại sao số lượng đàn trâu của xã La Bằng lại sụt giảm mạnh vào năm 2016? Năm 2014, đàn trâu của xã có 183 con, năm 2015 tăng lên 195 con, nhưng đến năm 2016 giảm mạnh xuống còn 134 con (giảm 61 con, tương ứng giảm 31,28% so với năm 2015). Nguyên nhân chính được tác giả chỉ ra là do người dân địa phương đẩy mạnh việc áp dụng máy móc cơ giới hóa vào khâu làm đất nông nghiệp thay thế cho sức kéo truyền thống, kết hợp với việc diện tích bãi chăn thả tự nhiên ngày càng bị thu hẹp.

4. Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp vụ đông năm 2016 của xã La Bằng đạt kết quả như thế nào? Kết quả thực hiện có sự phân hóa rõ giữa các loại cây trồng:

  • Chỉ tiêu cây trồng vượt kế hoạch: Cây sắn đạt 15,9 ha trên kế hoạch 11,9 ha (tỷ lệ 133,61%); cây khoai lang đạt 12 ha trên kế hoạch 10 ha (tỷ lệ 120%).
  • Chỉ tiêu cây trồng đạt kế hoạch: Cây ngô đạt 2 ha trên kế hoạch 2 ha (tỷ lệ 100%).
  • Chỉ tiêu cây trồng không đạt kế hoạch: Cây lúa đạt 380 ha trên kế hoạch 384 ha (tỷ lệ 98,96%); rau các loại đạt 56 ha trên kế hoạch 58 ha (tỷ lệ 96,55%); cây cải đạt 14,9 ha trên kế hoạch 16,9 ha (tỷ lệ 88,17%).

5. Cơ cấu đội ngũ tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2016 của xã gồm những ai? Đội ngũ lập kế hoạch của xã gồm 17 thành viên có sự phối hợp giữa chính quyền, chuyên môn và người dân: 02 đồng chí Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy (Đại học); 01 Phó Chủ tịch xã làm Trưởng ban chỉ đạo (Đại học); 01 Chủ tịch Hội Nông dân làm Phó ban chỉ đạo (Đại học); 01 Cán bộ Khuyến nông phụ trách kỹ thuật và giống (Đại học); 02 Chủ nhiệm Hợp tác xã (Cao đẳng); 07 Trưởng thôn/xóm đại diện cho các khu dân cư (Trung cấp); và 03 Giám đốc các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn hỗ trợ tư vấn thị trường (Đại học).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Đức Hùng đã phản ánh toàn diện bức tranh kinh tế nông nghiệp tại xã La Bằng giai đoạn 2014 - 2016, tập trung vào công tác lập và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất sau khi địa phương hoàn thành xây dựng nông thôn mới. Thông qua hệ thống số liệu thực địa phong phú và các phân tích đối sánh cụ thể, nghiên cứu làm sáng tỏ tiềm năng to lớn của cây chè và mô hình chăn nuôi gia trại, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong việc điều hành mùa vụ và hạ tầng thủy lợi, điện lực. Các giải pháp kiện toàn bộ máy cán bộ, tăng cường khuyến nông và kết nối thị trường được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoạch định phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.