Công Tác Dân Vận Của Các Đơn Vị Quân Đội Ở Vùng Đồng Bào Theo Đạo Tại Miền Đông Nam Bộ

Công tác dân vận của quân đội tại miền Đông Nam Bộ góp phần tăng cường đoàn kết, phát triển cộng đồng và hỗ trợ đồng bào theo đạo.

Trường đại học

Học viện Chính trị

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2011

189
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án

Tóm tắt

I. Tổng Quan Công Tác Dân Vận Quân Đội tại Miền Đông Nam Bộ

Công tác dân vận (CTDV) của Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong CTDV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là hoạt động của Quân đội nhằm xây dựng, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, giữa Đảng với nhân dân. Mục tiêu là giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ địa phương và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Miền Đông Nam Bộ (MĐNB) có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh của cả nước. Theo tài liệu gốc, MĐNB có nhiều tôn giáo với gần 5 triệu tín đồ, chiếm hơn 30% số dân. Do đó, tăng cường CTDV của Quân đội tại Miền Đông Nam Bộ là vô cùng cần thiết.

1.1. Vị Trí Chiến Lược của Miền Đông Nam Bộ

Miền Đông Nam Bộ đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng của Việt Nam. Đây là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp, cảng biển lớn, và có vị trí địa chính trị quan trọng. Sự ổn định và phát triển của khu vực này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của cả nước. Do đó, việc tăng cường sự gắn bó giữa Quân đội và nhân dân là yếu tố then chốt để đảm bảo an ninh trật tự tại đây.

1.2. Đặc Điểm Tôn Giáo và Dân Tộc tại Miền Đông Nam Bộ

Miền Đông Nam Bộ là địa bàn đa dạng về tôn giáo và dân tộc, với nhiều tín đồ các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo... Sự đa dạng này đòi hỏi Quân đội phải có cách tiếp cận phù hợp, tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của người dân. Đồng thời, cần chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để gây chia rẽ, mất ổn định.

II. Thách Thức Trong Công Tác Dân Vận Quân Đội Hiện Nay

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, CTDV của Quân đội ở vùng đồng bào theo đạo vẫn còn bộc lộ những hạn chế. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của CTDV. Nội dung, hình thức tiến hành CTDV còn đơn điệu, chậm đổi mới, hiệu quả chưa cao. Sự phối hợp với cấp uỷ, chính quyền địa phương chưa thường xuyên, thiếu chủ động. Theo tài liệu, do trình độ nhận thức và giác ngộ còn hạn chế, đời sống còn gặp khó khăn, kẻ thù đang lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, cần có giải pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả CTDV.

2.1. Nhận Thức và Kỹ Năng của Cán Bộ Chiến Sĩ Dân Vận

Một trong những thách thức lớn nhất là nâng cao nhận thức và kỹ năng cho cán bộ, chiến sĩ làm công tác dân vận. Cần trang bị cho họ kiến thức về chính sách dân tộc tôn giáo, kỹ năng giao tiếp, vận động quần chúng, và khả năng xử lý các tình huống phức tạp. Đồng thời, cần thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

2.2. Sự Phối Hợp Giữa Quân Đội và Chính Quyền Địa Phương

Để CTDV đạt hiệu quả cao, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Quân đội và chính quyền địa phương. Cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên, hiệu quả, đảm bảo thông tin thông suốt, kịp thời. Đồng thời, cần phân công trách nhiệm rõ ràng, tránh chồng chéo, trùng lặp. Sự phối hợp này phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng, tin tưởng, và hỗ trợ lẫn nhau.

2.3. Các Thế Lực Thù Địch Lợi Dụng Tôn Giáo Dân Tộc

Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để gây chia rẽ, mất ổn định. Chúng xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động tư tưởng cực đoan, gây mất đoàn kết trong cộng đồng. Do đó, Quân đội cần chủ động đấu tranh, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của chúng, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

III. Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Dân Vận Quân Đội Hiệu Quả

Để nâng cao hiệu quả CTDV, cần đổi mới nội dung, hình thức hoạt động, phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương. Tăng cường tuyên truyền vận động quần chúng chấp hành pháp luật, tham gia xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo. Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, người có uy tín trong cộng đồng. Xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Cần kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội.

3.1. Đổi Mới Nội Dung và Hình Thức Dân Vận

Nội dung CTDV cần tập trung vào việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là các chính sách liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Hình thức CTDV cần đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn. Có thể tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, khám chữa bệnh miễn phí, giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai...

3.2. Phát Huy Vai Trò Của Các Tổ Chức Đoàn Thể

Các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên... đóng vai trò quan trọng trong CTDV. Cần phát huy vai trò của họ trong việc vận động quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, cần tạo điều kiện để họ tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

3.3. Xây Dựng Cơ Sở Chính Trị Vững Mạnh

Xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh là yếu tố then chốt để đảm bảo thành công của CTDV. Cần củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương. Đồng thời, cần phát triển đảng viên, đoàn viên, hội viên trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, tạo nguồn cán bộ tại chỗ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Mô Hình Dân Vận Hiệu Quả

Nhiều đơn vị Quân đội đã triển khai các mô hình CTDV hiệu quả, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Ví dụ, mô hình "Quân đội chung tay xây dựng nông thôn mới", "Quân đội giúp dân xóa đói giảm nghèo", "Quân đội tham gia khắc phục hậu quả thiên tai". Các mô hình này đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, củng cố mối quan hệ quân - dân, tăng cường lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Cần tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình này.

4.1. Mô Hình Quân Đội Chung Tay Xây Dựng Nông Thôn Mới

Mô hình này tập trung vào việc giúp dân xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống văn hóa, xã hội. Quân đội tham gia xây dựng đường giao thông, trường học, trạm y tế, hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp, chuyển giao công nghệ mới. Đồng thời, Quân đội cũng tham gia giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội.

4.2. Mô Hình Quân Đội Giúp Dân Xóa Đói Giảm Nghèo

Quân đội hỗ trợ vốn, giống, vật tư, kỹ thuật cho các hộ nghèo, giúp họ phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập. Đồng thời, Quân đội cũng tổ chức các lớp đào tạo nghề, nâng cao tay nghề cho người lao động. Mô hình này đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, cải thiện đời sống của người dân.

V. Chính Sách Dân Vận Của Đảng và Nhà Nước Tại Miền Đông

Chính sách dân vận của Đảng và Nhà nước luôn coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các chính sách này hướng đến việc đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, tạo điều kiện để họ tham gia vào quá trình quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội. Quân đội có trách nhiệm quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chính sách này, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

5.1. Quan Điểm của Đảng Về Dân Vận

Quan điểm của Đảng về dân vận là "dân là gốc", "sức dân là sức mạnh". Dân vận là công tác vận động, thuyết phục, giáo dục, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Dân vận phải dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ của dân, vì lợi ích của dân.

5.2. Các Nghị Quyết Chỉ Thị Về Công Tác Dân Vận

Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về CTDV, trong đó có Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về "Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới". Các nghị quyết, chỉ thị này đã đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả CTDV.

VI. Kết Luận và Tương Lai Công Tác Dân Vận tại Miền Đông

CTDV của Quân đội tại MĐNB có vai trò quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả CTDV, xây dựng mối quan hệ quân - dân ngày càng gắn bó mật thiết. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của toàn quân, toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tương lai của CTDV tại Miền Đông Nam Bộ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi của xã hội và việc không ngừng hoàn thiện phương pháp tiếp cận quần chúng nhân dân.

6.1. Tầm Quan Trọng của Dân Vận Trong Tình Hình Mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, CTDV càng trở nên quan trọng. CTDV góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố sức mạnh nội sinh, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Đồng thời, CTDV cũng là cơ sở để xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, bảo vệ Tổ quốc từ xa.

6.2. Tiếp Tục Đổi Mới và Nâng Cao Hiệu Quả Dân Vận

Để CTDV đạt hiệu quả cao, cần tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm. Cần bám sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến của nhân dân, giải quyết kịp thời những bức xúc, kiến nghị của họ. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ làm CTDV có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng vận động quần chúng giỏi.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I có đề cập: Các lực lượng vũ trang Xô-viết là một bộ phận của nhân dân, giữa lực lượng vũ trang và nhân dân có sự thống nhất không gì phá vỡ nổi. Theo các tác giả, sự nhất trí giữa Quân đội và nhân dân thể hiện ở sự tham gia tích cực của Quân đội vào đời sống chính trị - xã hội của đất nước, thể hiện ở những mối quan hệ rộng rãi và nhiều mặt của các bộ đội và binh đoàn với các tổ chức đảng, Xô-viết, đoàn thanh niên và công đoàn, với các tập thể sản xuất của những người lao động. Về vấn đề giáo dục chiến sĩ tinh thần thống nhất giữa Quân đội và nhân dân, điểm 3 phần IV của chương ba đã xác định: Các cơ quan chính trị và các tổ chức đảng của Hồng quân cố làm cho lời thề “Tôi là con em của nhân dân lao động…” ăn sâu vào ý thức của mỗi chiến sĩ Hồng quân và trở thành nguyên tắc lãnh đạo trong mọi hoạt động của họ [116, tr. Theo các tác giả: để củng cố sự thống nhất giữa Quân đội và nhân dân cần có sự tham gia của tất cả mọi người dân Xô-viết vào việc nâng cao sức chiến đấu của Quân đội và hạm đội, vào việc giáo dục chính trị cho các chiến sĩ Hồng quân và coi đây là một trong những hình thức quan trọng để củng cố mối liên hệ của Hồng quân với hàng triệu quần chúng nông dân.

13 Qua nghiên cứu tác phẩm, có thể khẳng định: Sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình giáo dục chính trị trong quân đội Liên Xô là làm cho các chiến sĩ Hồng quân nhận thức được mối liên hệ gắn bó máu thịt với toàn thể nhân dân Xô-viết. Tuy nhiên, có thể khẳng định: công tác chính trị của quân đội Liên Xô trước đây đã thành công trong xây dựng Hồng quân để chiến thắng phát xít Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, nhưng đã không thành công trong bảo vệ Nhà nước và chế độ Xô-viết, bảo vệ Đảng Cộng sản Liên Xô khi Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ do những nguyên nhân thoái hoá từ bên trong… Đó là bài học lớn cần được Quân đội ta rút kinh nghiệm nhằm xây dựng, củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội và nhân dân trong tình hình mới. - Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1964 do La Trấn Vũ làm chủ biên, Trần Văn Tấn dịch. Trong tài liệu có đề cập đến những tư tưởng cơ bản về vai trò quần chúng nhân dân của các nhà tư tưởng cổ đại Trung Quốc.

Mạnh Tử là người đánh giá cao vai trò của dân và chỉ ra rằng các nhà cầm quyền giữ được nước hay để mất nước là do họ được lòng dân hay là ngược lại. Ông nói: Dân là quý, xã tắc là thứ yếu, vua là chuyện nhẹ. Các vua Kiệt, Trụ mà mất thiên hạ là vì họ đã mất lòng dân. Tại sao họ mất dân? Là vì họ làm mất lòng dân.

Muốn được thiên hạ, phải có đạo của nó. Đạo ấy là được dân thì liền được ngay thiên hạ. Được dân cũng phải có đạo của nó. Đạo ấy là được lòng dân thì liền được dân ngay [91, tr.

Như vậy, có thể khẳng định: “đạo” để làm được lòng dân theo tư tưởng của Mạnh Tử có thể được coi là ý tưởng về dân vận đầu tiên trong lịch sử. Tuân Tử - một nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại khác cho rằng: “Bậc minh quân, trị nước phải giảng dụ cho dân, giảng dụ rồi mới làm, làm được rồi thì ngừng lại, ngừng lại đúng ở chỗ cần thiết quan trọng thì thiên hạ sẽ yên ổn, lòng người mà ngay thẳng thì thiên hạ sẽ yên trị” [91, tr. Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng, trong tư tưởng chính trị về vấn đề quần chúng nhân dân mà Mạnh Tử, Tuân Tử đã đề cao chủ yếu là nhằm vào tầng lớp trên, kẻ sĩ, địa chủ hoặc thương nhân. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà tư 14 tưởng thời Trung Quốc cổ đại về chính sách chăn dân có thể đưa lại cho chúng ta những ý tưởng về hoạch định chính sách dân vận thời nay vô cùng quý báu.

- Giáo trình Công tác chính trị của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc dùng trong các Học viện, nhà trường trong thời kỳ mới. Do Chương Tư Nghị (Chủ biên), Nxb Đại học Quốc phòng QGPND Trung Quốc phát hành lần thứ nhất tháng 6 năm 1986, lần thứ hai tháng 10 năm 1987. Người dịch D- ương Minh Hào và Dương Thuỳ Trang - Cục Bảo vệ An ninh, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Nội dung gồm: Lời nói đầu và 10 phần với 47 chương.

Đây là công trình mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc. Cuốn sách tổng kết kinh nghiệm giáo huấn, phản ánh quy luật khách quan, khái quát những vấn đề mang tính quy luật được rút ra từ thực tiễn; có sự sáng tạo mới trên cơ sở phát huy truyền thống tốt đẹp đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội Trung Quốc ngày càng hiện đại. Bàn về ý nghĩa của xây dựng văn minh tinh thần XHCN, các tác giả khẳng định: Xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa là tăng cường phát triển quan hệ mới giữa Quân đội với nhân dân và chính quyền. Quân đội từ nhân dân mà ra.

Vì vậy, phải phục vụ nhân dân. Trong chiến tranh cách mạng trường kỳ và trong thời gian sau ngày thành lập nước, Quân đội cùng chính quyền địa phương và quần chúng nhân dân đoàn kết chặt chẽ, cùng chiến đấu, kết thành quan hệ máu thịt thân thiết, tạo nên truyền thống tốt đẹp “yêu dân, ủng hộ chính quyền và ủng hộ Quân đội” [46, tr. Thông qua hoạt động xây dựng văn minh tinh thần của quân và dân Trung Quốc, một số vấn đề còn tồn đọng từ trước được giải quyết một cách ổn thoả. Giữa Quân đội và nhân dân đã có lý tưởng chung, mục tiêu chung, quần chúng nhân dân cảm thấy yêu quý bộ đội như con em mình; cán bộ, chiến sĩ cảm thấy yêu quý quần chúng nhân dân như chính người thân của mình.

Do đó, việc xây dựng tình đoàn kết quân - dân và đoàn kết Quân đội với cấp uỷ, chính quyền địa phương phải được xây dựng trên nền tảng đó càng phải được thử thách và rút kinh nghiệm thường xuyên trong thực tiễn. 15 Theo các tác giả, để tăng cường mối quan hệ quân - dân trong QGPND Trung Quốc: một mặt, Quân đội phải tích cực tham gia và giúp đỡ địa phương xây dựng XHCN. Đặc biệt là xây dựng các công trình trọng điểm, dùng những việc làm thực tế từ xây dựng văn minh vật chất XHCN để làm ảnh hưởng, tác động tốt tới quần chúng, thúc đẩy sự phát triển không ngừng của sự nghiệp xây dựng XHCN; mặt khác, phải ra sức tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, tuyên truyền ý nghĩa to lớn của việc cải cách thể chế kinh tế, phải kịp thời ca ngợi thành tích tốt của các gương điển hình, kịp thời thông báo tin tức kinh tế cho quần chúng, cung cấp viện trợ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy cải cách kinh tế, nâng cao năng suất lao động. Muốn vậy, phải “Lấy lãnh đạo địa phương làm chính” tức là triển khai công tác quân và dân cùng xây dựng văn minh tinh thần XHCN dưới sự chỉ đạo thống nhất của cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương.

Bởi vì trận địa cùng xây dựng ấy là địa phương, chỉ có kiên trì lấy lãnh đạo địa phương làm chủ mới có thể làm cho nội dung, phương pháp, mục đích của công cuộc xây dựng văn minh tinh thần XHCN của quân và dân càng phù hợp hơn với tình hình thực tế và yêu cầu bức bách của quần chúng, mới đảm bảo cho hoạt động xây dựng văn minh tinh thần XHCN đồng nhất với trọng tâm công tác của địa phương, có thực sự làm được hai nhiệm vụ xây dựng văn minh vật chất và văn minh tinh thần mới bảo đảm tính liên tục và ổn định của công cuộc xây dựng văn minh tinh thần XHCN. Quán triệt nguyên tắc này, các đơn vị phải chịu sự lãnh đạo của cấp uỷ và chính quyền địa phương, kịp thời báo cáo xin chỉ thị công tác, phải chủ động tham mưu cho cấp uỷ và chính quyền, phải triển khai hoạt động xung quanh trọng tâm công tác của địa phương, không được làm ngoài phạm vi, phải chủ động giúp đỡ và dựa vào các tổ chức ở địa phương. “Lấy phát động tính tự giác làm việc của quần chúng là chính”, đó là sự vận dụng cụ thể đường lối quần chúng của Đảng chúng ta trong công cuộc toàn dân, toàn quân cùng xây dựng văn minh tinh thần XHCN [46, tr. 16 Theo nhóm tác giả, có phát động quần chúng một cách đầy đủ mới phát huy được tính sáng tạo và tính tích cực của họ, có như vậy công cuộc xây dựng XHCN mới có cơ sở quần chúng vững chắc và mới có thể làm thật sự sinh động, thật sự chắc chắn.

Kiên trì nguyên tắc “phát động quần chúng làm chủ”, bộ đội phải thường xuyên lắng nghe ý kiến quần chúng, đặc biệt là đối với một số quy định liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, quyền lợi thiết thực của quần chúng và những quy định mang tính bắt buộc như là nếp sống văn minh, hương ước cần phải tôn trọng và phát động quần chúng thảo luận một cách toàn diện, khơi dậy tinh thần tự nguyện của quần chúng, đối với một số việc nên làm nhưng quần chúng nhất thời chưa nhận thức được, phải kiên trì thuyết phục, không được nôn nóng; phải phát huy tác dụng của các tổ chức đoàn thể ở địa phương, hỗ trợ địa phương bồi dưỡng đội ngũ cốt cán trong nhân dân để chọn ra các đảng viên, cán bộ, đoàn viên và các phần tử tiên tiến, đưa họ vào tổ chức và trở thành người dẫn đầu thúc đẩy quần chúng xây dựng XHCN. “Lấy công tác tư tưởng chính trị làm chính”, tức là bộ đội phải kiên trì nguyên tắc: “giúp đỡ về vặt tinh thần là chính, về mặt vật chất là phụ”. Phải nắm chắc nhân tố tích cực, tuyên dương điển hình tiên tiến, dẫn dắt quần chúng phát huy phong trào mới, đạo đức mới XHCN, thiết thực làm tốt công tác vận động tư tưởng cho những người vào sau, giáo dục cho họ từ bỏ thói hư tật xấu, trở thành dạng phong phú tôi luyện đạo đức trong sáng cho mọi người, mở rộng mặt trận tư tưởng XHCN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ