phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 02 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1. Điều kiện công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Chƣơng 2. Thủ tục công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 7 CHƢƠNG 1 ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ Ở GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ Trong xã hội, khi mà các mối quan hệ kinh tế - xã hội chuyển động không ngừng, không thể tránh khỏi những va chạm, mâu thuẫn, xung đột về các giá trị, lợi ích giữa các chủ thể. Sự va chạm, mâu thuẫn này có thể dẫn đến những tranh chấp.
Để tránh những hậu quả tiêu cực có thể gây ra cho đời sống xã hội, việc hình thành những cơ chế giải quyết tranh chấp là nhu cầu khách quan. Lịch sử cho thấy các phương thức được sử dụng để giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực đời sống xã hội rất phong phú và đa dạng như: trung gian, hòa giải, thương lượng, trọng tài hoặc thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân. Các đương sự được lựa chọn và quyết định sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp không thông qua thủ tục xét xử đó là sự thỏa thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc trong phiên tòa xét xử. Trong chương này Học viên sẽ tập trung phân tích một số điều kiện để Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thông qua việc phân tích những quy định pháp luật có liên quan, nêu và phân tích những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật và từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Sự tự nguyện thỏa thuận của các đƣơng sự 1. Xác định nội hàm của “sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự” Điều 5 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”.
Tiếp đến tại điểm a khoản 2 Điều 205 BLTTDS năm 2015 quy định về nguyên tắc hòa giải, theo đó, các đương sự phải “tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình”. 8 Theo đó, khi có tranh chấp xảy ra, việc giải quyết xuất phát từ ý chí định đoạt của đương sự. Các đương sự tự thỏa thuận với nhau hay yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết là phụ thuộc vào quyết định của họ. Đây là cơ chế nhằm tăng cường hơn nữa quyền lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp cho các đương sự.
Và việc quy định công nhận sự thoả thuận của các đương sự sẽ là một phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu nhất để bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Như vậy, xuất phát từ bản chất của quan hệ dân sự, các bên bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ. Đương sự được tự do đưa ra những quyết định về những vấn đề, sự việc theo ý chí, nhận thức của mình mà không bị ai ngăn cản, hạn chế hoặc ràng buộc nào từ bên ngoài và ý chí thoả thuận đó hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên, đương sự chỉ có thể định đoạt đối với những gì thuộc quyền hạn tuyệt đối của mình, chứ không được quyền định đoạt thay người khác.
Không ai có quyền lừa dối, đe dọa, uy hiếp sự tự nguyện thoả thuận của người khác, bởi lẽ đấy cũng là một hình thức xâm hại đến quyền tự do của con người. Ngoài ra, pháp luật quy định việc Tòa án tiến hành hòa giải và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự phải xuất phát từ sự tự nguyện thực sự của đương sự. Sự tự nguyện này được thể hiện ở các nội dung sau: (i) Tự nguyện tham gia hòa giải; (ii) Tự nguyện thỏa thuận nội dung giải quyết vụ án; và (iii) Tòa án phải tôn trọng và ghi nhận những thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện của các đương sự về việc giải quyết các tranh chấp dân sự. Cụ thể: Một là, tự nguyện tham gia hòa giải: Cơ sở pháp lý của hòa giải xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự.
Theo đó đương sự được quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, quyết định quyền, lợi ích của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và trách nhiệm của Tòa án là bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền tự định đoạt của họ trong tố tụng dân sự. Do đó, hòa giải không chỉ là trách nhiệm của Tòa án mà còn là quyền của đương sự. Đương sự có quyền lựa chọn có tham gia hòa giải hay không. Nếu bị đơn vắng mặt được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì xem như bị đơn đã từ chối hòa giải.
Trong trường hợp này Tòa án không được ép buộc bị đơn phải tham gia hòa giải, Tòa án sẽ lập biên bản về việc 9 không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung (khoản 1 Điều 207 BLTTDS năm 2015). Hai là, tự nguyện thỏa thuận nội dung hòa giải: Trong quá trình hòa giải, các bên tranh chấp được bàn bạc, thảo luận và đi đến thống nhất phương án giải quyết tranh chấp. Nếu đương sự chấp nhận thỏa thuận mà việc thỏa thuận này là do hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực tác động đến ý chí chủ quan của đương sự làm cho họ phải lựa chọn cách thức thỏa thuận để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của mình thì cũng không được coi là tự nguyện thỏa thuận. Ba là, Tòa án phải tôn trọng và ghi nhận những thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện của các đương sự về việc giải quyết các tranh chấp dân sự: Tòa án là cơ quan xét xử, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân.
Trong tố tụng dân sự, Tòa án có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Cụ thể hơn, đó là việc cho đương sự thực hiện được quyền tự do thỏa thuận về tranh chấp. Tuy nhiên, để bảo đảm nguyên tắc này thì khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán không được tiết lộ đường lối xét xử mà chỉ có thể phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến tranh chấp cho các bên liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình, để tự nguyện khi hòa giải. Trong xét xử thì đường lối giải quyết vụ án do Hội đồng xét xử căn cứ vào pháp luật và các chứng cứ để quyết định, còn đối với việc hòa giải phải do chính các đương sự quyết định, Tòa án chỉ đảm bảo về mặt thủ tục cho phiên hòa giải còn về nội dung của việc hòa giải thì Tòa án chỉ hướng dẫn các 1 đương sự tự thỏa thuận.
Nói cách khác, Tòa án không được can thiệp vào nội dung thỏa thuận của các đương sự, Tòa án chỉ ghi nhận sự thỏa thuận đó bằng một văn bản có giá trị pháp lý và Tòa án chỉ được ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận trên cơ sở những nội dung, các vấn đề mà đương sự đã tự nguyện đồng ý sau khi thảo luận, thương lượng, cân nhắc và quyết định. Thực tiễn xác định “sự tự nguỵện của các đương sự” và kiến nghị hoàn thiện Mặc dù hiện nay pháp luật tố tụng đã quy định rõ trường hợp khi các bên tham gia hòa giải phải dựa trên sự tự nguyện của các bên đương sự nhưng trong 1 Đặng Quang Huy (2018), Nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 thực tiễn xét xử vẫn còn có trường hợp Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận, điều này dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. 2 Vụ án thứ nhất Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (“Nguyên đơn”) đã ký hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Mạnh Thường và bà Nguyễn Thị Tuyết (“Bị đơn”).
Theo đó, bị đơn vay nguyên đơn với số tiền là 150.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, khi vay vốn bị đơn có thế chấp quyền sử dụng đất cấp của hộ gia đình bị đơn cho Ngân hàng. Do bị đơn không trả được nợ nên nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn ra Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giải quyết. Do các đương sự đã thỏa thuận việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 36/2011/QĐST-KDTM ngày 27/4/2011 (“Quyết định”) ghi nhận việc thỏa thuận trả nợ giữa các đương sự. Tuy nhiên sau đó Quyết định trên đã bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm (“HĐXXGĐT”) đã hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận nêu trên. Qua nghiên cứu, học viên cho rằng HĐXXGĐT đã căn cứ vào việc đương sự không thật sự tự nguyện khi thỏa thuận về việc giải quyết vụ án, có sự ép buộc của các bên (căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 205 BLTTDS năm 2015, theo đó Tòa án phải tôn trọng sự tự nguyện của đương sự trong việc hòa giải và công nhận sự thỏa thuận của các bên, không được ép buộc họ thỏa thuận trái với ý chí của họ) để hủy Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nêu trên.