chương I sẽ trình bày giới thiệu tổng quát về khả năng, đặc tính, cũng như các thách thức của công nghệ truyền thông nhận thức. Công nghệ truyền thông nhận được xây dựng trên nền tảng các công nghệ đã có sẵn và làm cải thiện các công nghệ đã có tốt hơn. Trong số các công nghệ thì công nghệ OFDM được xem là phù hợp cho hệ thống truyền thông nhận thức. Các ưu điểm của công nghệ OFDM giúp cho hệ thống truyền thông nhận thức nâng cao được hiệu năng.
Bên cạnh đó những thách thức của công nghệ OFDM cũng chính là thách thức đối với hệ thống truyền thông nhận thức sử dụng công nghệ OFDM những vấn đề này được trình bày trong chương II. Hầu hết cuộc gọi thoại và lưu lượng dữ liệu tốc độ cao được yêu cầu đều xuất phát từ môi trường trong nhà. Hệ thống truyền thông nhận thức-Femtocell được thiết kế để phục vụ tốt hơn cho những dịch vụ này nhờ những ưu điểm của hệ thống truyền thông nhận thức kết hợp với hệ thống Femtocell không chỉ giải quyết vấn đề khan hiếm phổ mà còn giúp sử dụng phổ hiệu quả cũng như nâng cao độ phủ sóng tốt hơn. Hiệu năng của hệ thống truyền thông nhận thức-Femtocell phụ thuộc vào tối ưu như thế nào cho việc cấp phát các tài nguyên hiện có (băng thông, sóng mang, công suất) của một băng tần trống mà vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ cho các người dùng.
Nội dung và các bài toán phân bổ tài nguyên được trình bày trong chương III. Với sự hướng dẫn của thầy PGS. Nguyễn Văn Đức đã giúp tôi nhận ra sự cấp thiết và tính thực tế của công nghệ không dây thông minh nhận thức vào giải quyết các vấn đề mà mạng hiện nay gặp phải nhằm giúp nâng cao chất lượng dịch vụ. Tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGS.
Nguyễn Văn Đức đã chỉ dẫn cho tôi và cùng với sự giúp đỡ của thầy Th. Nguyễn Tiến Hòa giảng viên Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giúp tôi hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này. CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG NHẬN THỨC Công nghệ truyền thông nhận thức ra đời đã góp phần giải quyết đáng kể về kham hiếm phổ.
Ở đây, công nghệ này không phải sinh ra các phổ mới mà là sử dụng phổ sao cho hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như đáp ứng được các đòi hỏi tốc độ dữ liệu tăng cao. Công nghệ truyền thông nhận được xây dựng trên nền tảng các công nghệ đã có sẵn và làm cải thiện các công nghệ đã có tốt hơn. Truyền thông nhận thức cũng sẽ là lựa chọn tốt cho các mạng thế hệ tiếp theo. Chương này sẽ giới thiệu tổng quát về khả năng, đặc tính, cũng như thách thức của công nghệ truyền thông nhận thức.1 Giới thiệu Phổ vô tuyến là một tài nguyên có giá trị đối với truyền thông không dây.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ truyền thông không dây, tài nguyên phổ vô tuyến kham hiếm dần. Tuy nhiên, các đo lường đã chỉ ra rằng các phạm vi lớn của phổ là ít được sử dụng [1]. Truyền thông nhận thức là một tiếp cận truyền thông không dây mới giúp cho nâng cao sử dụng đáng kể các tài nguyên vô tuyến sẵn có. Những người dùng không được cấp phép có thể truy cập vào phổ đã được cấp phép, với những điều kiện rằng can nhiễu tới người dùng được cấp phép là nhỏ nhất.
Điều này là thách thức phải được giải quyết cho truyền thông nhận thức. Hệ thống truyền thông nhận thức có thể cấu hình các tham số như băng tần, dạng sóng, công suất phát…, tùy thuộc vào môi trường xung quanh và từ đó tận dụng khai thác phổ có sẵn và tránh gây tắc nghẽn. Do đó, một tiến trình nhận thức được sử dụng cho mục đích thu thập thông tin, cơ chế học hỏi, từ đó phân tích và đưa ra quyết định. Truyền thông nhận thức được xây dựng trên công nghệ phần mền định nghĩa vô tuyến (SDR).
Do đó, SDR được sử dụng để giải quyết tiến trình nhận thức. Như vậy, công nghệ truyền thông nhận thức là chìa khóa cho các thế hệ mạng mới như 4G LTE-A, 5G. Lợi ích của truyền thông nhận thức: 1 Truyền thông nhận thức cung cấp nhiều tối ưu khác nhau trong mã hóa, tần số, điều chế, công suất, thời gian, không gian như sau [2]: - Hiệu năng phổ: Điều này cho phép nhu cầu sắp tới đối với phổ được phục vụ và là mục đích cơ bản hỗ trợ thực hiện của truyền thông nhận thức. - Phục vụ băng thông cao: Theo yêu cầu của dịch vụ không dây là liên tục tăng sẽ được thỏa mãn bởi truyền thông nhận thức.
- Sự suy giảm của các phục vụ: Khi các điều kiện không đúng tiêu chuẩn, sự suy giảm của phục vụ sẽ được cung cấp, như mất phục vụ đột ngột. Đặc tính này của truyền thông nhận thức rất quan trọng trong cung cấp các phục vụ với những người dùng đặc biệt khi họ là người dùng di động và các trạm gốc trong điều kiện thay đổi liên tục. - Hỗ trợ chất lượng dịch vụ: Sự sẵn sàng và tin cậy của những dịch vụ không dây sẽ cải thiện từ quan điểm của người dùng. - Các lợi ích cho nhà cung cấp dịch vụ: Bởi vì tốc độ truyền thông tin tăng nhiều hơn, các khách hàng bị thu hút tới các dịch vụ.
- Sản phẩm tương lai: Truyền thông nhận thích có thể thay đổi các dịch vụ, các giao thức, điều chế, phổ… mà không cần người dùng hay nhà sản xuất cải tiến thiết bị. - Nền tảng phần cứng thông thường: Các nhà sản xuất không cần phải xây dụng thay đổi phần cứng nhiều, thay vì sử dụng nền tảng thông thường để chạy một phần mềm mở rộng. - Những dịch vụ truyền thông khẩn cấp: Tại thời điểm của các sự cố lớn, các hoạt động chung sẽ rất có lợi cho cảnh sát, cháy, cứu thương có thể được liên kết với nhau cùng trong một truyền thông. - Lợi ích cho người được cấp phép: Ở đây, người được cấp phép sẽ được phép cho thuê một phần quyền lợi phổ của họ cho các bên khác và kiếm tiền.
Ứng dụng của truyền thông nhận thức với các dịch vụ Có nhiều dịch vụ và nhiều ứng dụng không dây phát triển mới khác nhau trong những khả năng của truyền thông nhận thức [2]: 2 - Các dịch vụ Internet tương lai: Hỗ trợ các dịch vụ Internet mới băng rộng, tốc độ dữ liệu cao và đảm bảo chất lượng dịch vụ liên tục cho đa phương tiện khác nhau và các ứng dụng khác. - Tải dữ liệu đa phương tiện trong di động: Tải nhạc, video và các tài liệu khác trong thiết bị cầm tay, tốc độ dữ liệu đáp ứng yêu cầu và độ bao phủ tốt. - Truyền thông trong những dịch vụ khẩn cấp: Yêu cầu độ bao phủ được xác định và đáp ứng tốc độ dữ liệu tại thời điểm khẩn cấp cho truyền thông (như quân sự, giám sát…). - Các dịch vụ đa phương tiện không dây: Hệ thống không dây sử dụng phân phối video, audio yêu cầu tốc độ dữ liệu cao.2 Các định nghĩa về truyền thông nhận thức Năm 1999, J.Maguire [3] lần đầu tiên giải nghĩa về truyền thông nhận thức, năm 2001 [4], Mitola đã định nghĩa như sau: Truyền thông nhận thức là một khung làm việc có hướng điều khiển trong đó máy vô tuyến độc lập theo dõi môi trường vô tuyến, suy ra từ bối cảnh, quyết định thay thế, tạo các kế hoạch, quản lý các dịch vụ đa phương tiện, và học từ những lỗi của nó.
Chu kỳ theo dõi-suy nghĩ-hành động này rất khác nhau, máy di động ngày nay bùng nổ về tần số hoặc che mờ từ mạng. Công nghệ vô tuyến nhận thức do đó giúp nâng cao vô tuyến để theo dõi các quy chuẩn linh hoạt hơn các công nghệ khác trước đây. Một định nghĩa rộng khác được đưa ra bởi Simon Haykins khi trình bày tổng quát về truyền thông nhận thức như sau [5]: Một hệ thống truyền thông không dây thông minh là nhận thức được môi trường xung quanh nó (tức là: thế giới bên ngoài), và sử dụng các phương pháp của sự hiểu biết được xây dựng để học hỏi từ môi trường và thích ứng với các trạng thái bên trong để thống kê các thay đổi để tiến đến kích thích tần số vô tuyến bằng cách thay đổi tương ứng trong các tham số hoạt động cố định (như: công suất phát, tần số sóng mang và chiến lược điều chế) trong thời gian thực với hai mục đích chính: 3 Truyền thông có độ tin cậy cao bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào cần thiết; Hiệu quả sử dụng phổ vô tuyến. Federal Communications Commissions (FCC) đã định nghĩa truyền thông nhận thức như sau [6]: Một đài vô tuyến có thể thay đổi các tham số truyền dựa trên các tương tác với môi trường mà nó hoạt động.
Một định nghĩa khác cho truyền thông nhận thức được đưa chấp thuận bởi diễn đàn Wireless Inovation như sau [7]: Trạm phát vô tuyến trong các hệ thống truyền thông nhận thức được môi trường và trạng thái bên trong của nó và có thể đưa ra quyết định về hoạt động vô tuyến của nó dựa trên thông tin và xác định trước các điều kiện. Thông tin môi trường có thể hoặc không thể có bao gồm thông tin vị trí liên quan đến các hệ thống truyền thông. Các hệ thống truyền thông nhận thức được xây dựng trên nền tảng phần mềm xác định vô tuyến (SDR). Tính năng cơ bản của một SDR là tự cấu hình lại trong các thuộc tính khác nhau của tầng vật lý.
Do đó, giúp cho một truyền thông nhận thức hoạt động trong các môi trường thay đổi. Một SDR được định nghĩa như sau [8]: Đài phát vô tuyến trong một hoặc tất cả các chức năng tầng vật lý là phần mềm xác định. Phần mềm xác định đề cập đến việc sử dụng phần mềm xử lý trong hệ thống vô tuyến hoặc thiết bị để thực hiện các chức năng hoạt động (nhưng không điều khiển). Do đó, một SDR là một hệ thống cấu hình lại để tự động điều khiển các tham số truyền theo thông số kỹ thuật truyền thông và các yêu cầu.
Khả năng thích ứng này đạt được bằng các thuật toán xử lý tín hiệu phần mềm điều khiển. Các tham số thu phát vô tuyến có thể được thay đổi như các kịch bản sau: Trước khi hệ thống cung cấp đến khách hàng. 4 Thay đổi cấu trúc mạng hoặc bổ sung trạm cơ sở mới.