Đặt vấn đề hành tỷ giá linh hoạt nhằm mục tiêu quản lý chặt chẽ hoạt động TDNT theo hướng tiến Hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu tới xóa bồ triệt để hình thức tín dụng này và rộng đã mở ra cho Việt Nam cơ hội được tiếp dần chuyển sang quan hệ mua bán ngoại tệ cận những dòng vốn đa dạng từ các nước trong tương lai. trên thế giới. Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của các dòng vốn này, hoạt động TDNT Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả sử cũng ngày càng phát triển, là một trong dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và so những nhân tố thúc đẩy sản xuất kinh doanh sánh để đánh giá thực trạng quan ly TDNT của khu vực doanh nghiệp, tạo đà cho tăng tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 trưởng kinh tế trong nước. Tuy nhiên, TDNT nhằm giúp cho các nhà điều hành chính sách cũng mang lại những hệ lụy đối với nền kinh có một cái nhìn sâu sắc và toàn điện hơn, tế, gây khó khăn cho nhà điều hành chính góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý sách trong việc kiểm soát các mục tiêu ổn TDNT, ổn định thị trường ngoại hối và kinh định và tăng trưởng kinh tế.
NHNN thời tế vĩ mô tại Việt Nam. gian qua đã thực hiện hàng loạt các biện pháp như hạn chế đối tượng cho vay ngoại Cơ sở lý thuyết tệ, giảm lãi suất huy động, tăng dự trữ bắt buộc (DTBB) tiền gửi ngoại tệ, giảm trạng TDNT bao gồm các nghiệp vụ nhận tiền gửi thái ngoại tệ cuối ngày của các TCTD, điều và cấp tín dụng bằng ngoại tệ. Các hình congnghe Ngan hang Số 98 eThang 5/2014 TÍN DỤNG NGOẠI TỆ <<<<< thức tiền gửi gồm tiển gửi không kỳ han, thị trường vốn, trong đó các TCTD huy động tiên gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát tiên gửi bằng ngoại tệ, nhưng có các khoản hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu đầu tư tài sản dài hạn mà không thể dễ dàng và các hình thức nhận tiển gửi khác theo chuyển đổi thành tiền mặt trong sự kiện đột nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi biến rút tiền gửi ngân hàng (bank run). cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng bằng ngoại tệ là việc thỏa thuận để Sự tồn tại được cho phép của TDNT trong tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền nền kinh tế còn làm giảm hiệu lực của chính hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản sách tiền tệ, tạo áp lực lên tỷ giá, làm gia tiên bằng ngoại tệ theo nguyên tắc có hoàn tăng tình trạng đô la hóa. Ngoài ra, TDNT trả bằng nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết tạo điều kiện cho những hành vi tiêu cực, khấu, bao thanh toán và các nghiệp vụ cấp tham nhũng, phát triển thị trường chợ đen; tín dụng khác (Luật các TCTD, 2010). tạo ra sự vận động “luẩn quẩn” của dòng vốn; mang lại thu nhập bất thường cũng như tạo Đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực ra nguy cơ rủi ro cho một số doanh nghiệp và nghiệm cho rằng nhân tố ảnh hưởng đến TCTD (Đặng Ngọc Đức, 2011). Do đó, quản TDNT chủ yếu là sự biến động của tỷ lệ lạm lý TDNT giúp ngân hàng trung ương ổn định phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái (Arteta, 2005; thị trường ngoại hối, hạn chế các tác động Rosenberg và Tirpak, 2008; Steiner, 2009; tiêu cực của TDNT đối với nền kinh tế.
Các Zettlemeyer và các tác giả, 2010; Neanidis, công cụ để ngân hàng trung ương quản lý 2010). Brzoza-Brzezina và các tác giả (2010) TDNT bao gồm: lãi suất, tỷ giá, DTBB, hạn phân tích tác động của chính sách tiền tệ mức tín dụng. trên tổng dư nợ ngân hàng dựa trên dữ liệu Bảng của bốn quốc gia châu Âu (Cộng hòa Thực trạng quản lý tín dụng ngoại tệ Séc, Hungary, Ba Lan và Slovakia), kết quả tại Việt Nam giai đoạn 2007-2013 nghiên cứu chỉ ra rằng chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến sự sụt giảm các khoản cho Quản lý TDNT tại Việt Nam thời gian qua vay bằng nội tệ nhưng đồng thời tăng tốc được NHNN thực hiện linh hoạt gắn liền các khoản cho vay bằng ngoại tệ. Mô hình với điều hành chính sách tiền tệ của NHNN lý thuyết của Jeanne (2005) khám phá giả nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá trị đồng thuyết rằng hiện tượng đô la hóa là kết quả tiên, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng của việc thiếu sự tín nhiệm tiền tệ và khi độ trưởng kinh tế.
tin cậy của chính sách tiền tệ thấp, người đi vay buộc phải vay ngoại tệ. Sử dụng dữ liệu Năm 2007 từ Điều tra OeNB Euro, Beckmann và các tác giả (2011) cho thấy các khoản vay ngoại tệ Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam gia trong nên kinh tế CBSEE vẫn hấp dẫn cho nhập WTO cùng với sự gia tăng của các dòng khách hàng vay ngay cả sau khi sự sụt giảm vốn nước ngoài làm cung ngoại tệ tăng mạnh, tỷ giá đáng kể trong cuộc khủng hoảng tài tạo áp lực tăng giá VND, lạm phát tăng lên đến chinh. McKinnon va Pill (1995) cho rang ty 12,63%. NHNN đã hai lần nới lỏng biên độ tỷ do hóa tài chính kết hợp với bảo hiểm tiền giá lên +0,5% và +0,75%; bỏ quy định trần lãi gửi ngoại tệ có thể gây ra sự bùng nổ TDNT suất tiền gửi bằng USD đối với doanh nghiệp; mà cuối cùng dẫn đến các cuộc khủng hoảng điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB gấp 1,5-2 lần (kỳ ngân hàng và khủng hoảng tiền tệ.
Chang và hạn dưới 12 tháng tăng từ 8% lên 10%, kỳ hạn Velasco (2001) nhấn mạnh khả năng tự phát trên 12-24 tháng tăng từ 2% lên 4%). Lãi suất sinh (self-fulfilling) các cuộc khúng hoảng tài huy động VND khoảng 105/năm, lãi suất huy chính tại các quốc gia mới nổi với sự mở cửa động USD khoảng 5,3-5,7%/năm. Lãi suất “Công tiohe ngân hàng i S6 98 eThang 5/2014 >>>>> TIN DUNG NGOAI TE cho vay VND khoảng 15%/năm, lãi suất cho kinh tế tỷ lệ DTBB được điều chỉnh giảm vay USD khoảng 7-9%/năm. đối với tiền gửủi VND từ 11% xuống 10-6% và tiền gửi ngoại tệ từ 11% xuống 9-7%.
Kết quả, tăng trưởng huy động vốn bằng Ngoài ra, NHNN còn ban hành Quyết định ngoại tệ năm 2007 đạt 29,66% (tăng so với số. 09/2008/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 về thu mức 28,31% của năm 2006); tăng trưởng hẹp đối tượng được vay ngoại tệ. TDNT trong 11 tháng đầu năm trung bình khoảng 4%/tháng nhưng đến thời điểm Kết quả, tăng trưởng huy động vốn bằng tháng 12/2007 do lãi suất cho vay USD ở ngoại tệ năm 2008 đạt 27,74%, tăng trưởng mức thấp (7-9%/năm) trong khi lãi suất cho tín dụng bằng ngoại tệ đạt 17,61%. TPTTT vay VND lại khá cao (15%/năm) nên đa số tính đến ngày 31/12/2008 tăng 20,31%; tỷ các doanh nghiệp đều muốn vay vốn bằng trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm 20,37% ngoại tệ làm cho tăng trưởng TDNT đã tăng trong TPTTT, tang 1,19% so với năm 2007.
mạnh lên mức 6%/năm, kết quả là tổng tăng trưởng tín dụng bằng U8D vượt qua tín dụng Năm 2009 VND (Vũ Giang, 2008). Qui mô dự trữ ngoại hối của NHNN đã tăng lên 17 tuần nhập Năm 2009, Việt Nam tiếp tục chịu tác động khẩu vào cuối năm. Tổng phương tiện thanh của khủng hoảng tài chính toàn cầu, lạm phát toán (TPTTT) tính đến ngày 31/12/2007 tăng đã giảm xuống 6,88%. NHNN thực hiện cơ chế 46,12%; tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ chiếm hỗ trợ lãi suất 4%/năm đối với các khoản vay 19,18% trong TPTTT, thấp hơn năm 2006 là VND để kích thích tăng trưởng kinh tế.
hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ trong dân cư, NHNN yêu cầu các NHTM giảm lãi suất huy Năm 2008 động và cho vay bằng ngoại tệ (lãi suất huy động giảm xuống mức không quá 1,5%4/⁄năm từ Năm 2008 được đánh dấu bởi cuộc khủng ngày 01/6/2009, lãi suất cho vay giảm từ mức hoảng tài chính toàn cầu đã gây những bất 6-6,ỗð%/năm xuống không quá 4%/năm từ ngày ổn cho nền kinh tế trong nước, lạm phát 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá tăng cao đến 19,89%, các luồng vốn nước 3%/năm từ ngày 01/6/2009). Cung cầu ngoại tệ ngoài vào Việt Nam giảm sút, thâm hụt cán diễn biến phức tạp tạo nhiều áp lực lên tỷ giá. cân thương mại đạt mức cao. NHNN đã 3 lần Tháng 3/2009 NHNN mở rộng biên độ tỷ giá điều chỉnh biên độ tỷ giá vào các thời điểm tới từ +3% lên +5%, việc điều chỉnh này đù chưa tháng 3/2008 (+1%), tháng 6/2008 (+2%), đưa tỷ giá NHTM bám sát thị trường và chưa tháng 11/2008 (+3%) và điều chỉnh tỷ giá kịp lúc bởi lẽ cho đến khi NHNN can thiệp, chính thức tăng 3%.
Trong 6 tháng đầu năm, thị trường đã rơi vào căng thẳng trong một lãi suất huy động USD khoảng 6,5-8%/năm, thời gian dài nhưng cũng là một điều chỉnh lãi suất cho vay USD khoảng 9-9,5%/năm, lính hoạt của NHNN. Tháng 11/2009, NHNN trong 6 tháng cuối năm lãi suất huy động tiếp tục điều chỉnh tăng tỷ giá chính thức USD giảm xuống mức 3-5%/năm ở các kỳ thêm 5,44% đồng thời thu hẹp biên độ xuống hạn, lãi suất cho vay USD khoảng 6-8%4/năm còn +/-3%. Tỷ lệ DTBB được điều hành theo ở tất cả các kỳ hạn. Trong tháng 02/2008, hướng giảm đối với VND từ 6-5-3% đối với NHNN đã điều chỉnh tăng 1% tỷ lệ DTBB ở kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 2-1% đối với tất cả các kỳ hạn, áp dụng cho cả VND và kỳ hạn trên 12 tháng trong khi tỷ lệ DTBB ngoại tệ đồng thời mở rộng diện phải DTBB bằng ngoại tệ được giữ nguyên để duy trì ổn đối với loại tiền gửi kỳ hạn từ 24 tháng trở định lãi suất ngoại tệ.
Bên cạnh đó, NHNN lên nhằm kiểm chế lạm phát. Trong những còn ban hành Thông tư số 25/2009/TT-NHNN tháng cuối năm, để kích thích tăng trưởng ngày 15/12/2009 mở rộng thêm đối tượng coagnge gân hàng Sé 98 eThang 5/2014 TÍN DỤNG NGOẠI TỆ <<<<< được vay vốn bằng ngoại tệ nhằm góp phần vay ngoại tệ của các TCƠTD. TPTTT tính đến cân đối cung cầu ngoại tệ, ổn định thị trường ngày 31/12/2010 tăng 33,3%; tỷ trọng tién ngoại hối. gửi bằng ngoại tệ chiếm 16,7% trong TPTTT, giảm so với 20,41% trong năm 2009.
Kết quả, tăng trưởng huy động vốn bằng ngoại tệ năm 2009 đạt 29,29% (tăng nhẹ so Năm 2011 với mức 27,74% của năm 2008), tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đạt 15,12% (thấp hơn Kinh tế thế giới bị tác động mạnh mẽ bởi so với tốc độ tăng 17,61% của năm 2008).